Đáp án đúng:
Giải chi tiết:Học sinh cần có kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học, thể hiện được năng lực cảm thụ và bày tỏ được quan điểm cá nhân. Bài làm có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý chính dưới đây:
I. Khái quát chung: (0,5 điểm)
- Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ vừa nhiều trắc ẩn vừa hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường.
- Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.
- Trích dẫn hai ý kiến.
II. Phân tích, chứng minh: (3,0 điểm)
1. Giải thích ý kiến: (0,5 điểm)
- “Đoạn thơ thể hiện khát vọng về cuộc sống, tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ, rất mạnh mẽ”: khẳng định tình cảm táo bạo, mãnh liệt, chủ động trong tình yêu của người phụ nữ.
- “Đoạn thơ thể hiện những dự cảm âu lo”: Chú ý đến tâm trạng thường thấy khi yêu của người phụ nữ: bị động, lo xa.
2. Chứng minh: (2,5 điểm)
a. Ý kiến 1: Đoạn thơ thể hiện khát vọng về cuộc sống, tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ, rất mạnh mẽ (1,0 điểm)
- Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ, thể hiện thông qua cặp hình ảnh sóng đôi "sóng" và "em".
- "Sóng" được miêu tả trong nhiều không gian “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, trong sự dàn trải của thời gian "ngày - đêm" nhưng lúc nào cũng triền miên trong nỗi nhớ bờ đến "không ngủ được". Sóng thức bởi tình yêu và nỗi nhớ luôn thức mãi!
- Tình yêu của "Em" chân thành, sâu sắc, mãnh liệt, thủy chung: Nỗi nhớ được đo bằng không gian và thời gian; nỗi nhớ đầy ắp cả trong thực và trong mộng. "Em" không chút dè dặt, mạnh dạn bộc lộ nỗi nhớ một cách trực tiếp “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”. Hình ảnh người yêu luôn ngự trị trong trái tìm cuả người thiếu nữ, là "một phương" duy nhất lòng em luôn hướng tới. Đằng sau nỗi nhớ ấy là một khao khát cháy bỏng về tình yêu và mái ấm hạnh phúc.
b. Ý kiến 2: Đoạn thơ thể hiện những dự cảm âu lo (1,5 điểm)
- Giả thiết: “dẫu xuôi”, “dẫu ngược” chất chứa dự cảm về những trắc trở trong tình yêu.
- “Phương bắc”, “phương nam” : gợi không gian xa cách, ẩn giấu những phấp phỏng lo âu về sự cách trở.
=> Ngay cả khi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, say đắm, lòng người phụ nữ vẫn không tránh khỏi những dự cảm không lành . Đó là điều dễ hiểu và suy cho cùng, những lo lắng ấy cũng xuất phát từ chính trái tim yêu chân thành, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt.
- Nguyên nhân:
+ Những dự cảm đó cũng là điều dễ hiểu bởi suy cho cùng nó xuất phát từ chính trái tim yêu chân thành, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt.
+ Do cảnh ngộ riêng của nhà thơ - từng đổ vỡ trong tình yêu, hôn nhân.
+ Do hoàn cảnh đất nước chiến tranh ác liệt, sự sống và hạnh phúc của con người rất mong manh.
III. Đánh giá: (0,5 điểm)
- Hai ý kiến đều đúng, thể hiện những vẻ đẹp , những khía cạnh khác nhau trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận bài thơ ở cả bề mặt, chiều sâu và có những phát hiện thú vị, mới mẻ trong mĩ cảm.
- Đặc sắc nghệ thuật: Thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ linh hoạt, giọng điệu chân thành, da diết, sự sáng tạo, phá vỡ khuôn khổ của khổ thơ truyền thống. Ngôn ngữ thơ bình dị, thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ, các cặp từ tương phản, đối lập, các điệp từ; cặp hình tượng sóng đôi "sóng - em"
=> Thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu cũng như chính cái tôi tác giả.