b) Thân bài
* Khái quát về hoàn cảnh diễn ra cuộc trao duyên
- Sau đêm thề nguyện giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, Kim Trọng phải về gấp hộ tang chú ở Liễu Dương. Tai nạn ập đến nhà Kiều vì sự vu oan của thằng bán tơ. Cha và em trai bị đánh đập tàn nhẫn, của cải bị cướp sạch. Kiều buộc phải bán mình chuộc tội cho cha và em. Công việc nhà tạm ổn, nhưng mối tình của mình thì lỡ dở. Chỉ còn lại một đêm ở nhà, ngày mai phải đi theo Mã Giám Sinh. Thúy Kiều đã cậy nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng.
* Kiều trao duyên cho Vân, nhờ cậy Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim
- Lời nhờ cậy của Kiều
+ "Cậy" : một thanh trắc với âm điệu nặng nề, gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói, còn mang hàm nghĩa là trông mong, giúp đỡ, hi vọng tha thiết, sự gửi gắm đầy tin tưởng.
+ Chịu: Nài ép, bắt buộc, không thể từ chối.
-> Vân bị ép vào một thế dù không muốn cũng phải nhận tình yêu mà Kiều trao.
=> Lời lẽ cậy nhờ của Kiều rất đẹp đẽ và chính xác, chặt chẽ.
- Hành động nhờ cậy:
+ “ngồi lên”, “lạy”, “thưa”: Kính cẩn trang trọng với người bề trên hoặc người hàm ơn.
-> Sự thay bậc đổi ngôi, đi ngược với lễ giáo phong kiến nhưng chấp nhận được, bởi: Kiều coi Vân như ân nhân của mình. Kiều trân trọng tình yêu với Kim Trọng.
=> Qua cách nói thể hiện sự thông minh, khéo léo của Thúy Kiều
- Lí lẽ trao duyên của Kiều:
+ Kiều kể về tình yêu với Kim Trọng, nguyên nhân sự tan vỡ và quyết định của mình : “khi ngày... chén thề”, nguyên nhân tan vỡ: “Sự đâu... bất kì”, quyết định khó xử : “Hiếu tình... vẹn hai”.
+ “Giữa đường đứt gánh tương tư”, “Mối tơ thừa”, “Quạt ước, chén thề” -> Thành ngữ, những điển tích, những ngôn ngữ giàu hình ảnh đã vẽ nên một mối tình nồng thắm nhưng mong manh, dang dở và đầy bất hạnh của Kim - Kiều.
+ Những lí do khiến Kiều trao duyên cho em:
Gia đình Kiều gặp biến cố lớn “sóng gió bất kì”, Kiều buộc phải chọn hoặc “hiếu” hoặc “tình”, Kiều chọn hi sinh tình.
-> Gợi ra tình cảnh ngang trái, khó xử của mình để em thấu hiểu.
“Ngày xuân em hãy còn dài”
-> Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước.
“Xót tình máu mủ thay lời nước non”
-> Kiều thuyết phục em bằng tình cảm ruột thịt.
“Thịt nát xương mòn”, “ Ngậm cười chín suối”: nói về cái chết đầy mãn nguyện.
-> Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời.
=> Cách lập luận hết sức chặt chẽ, thấu tình cho thấy Thúy Kiều là người sắc sảo tinh tế, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa.
* Tâm trạng của Kiều khi trao kỉ vật và dặn dò Vân
- Kiều trao kỉ vật
+ Chiếc vành, bức tờ mây -> Kiều trao những kỉ vật gắn bó đơn sơ mà thiêng liêng, gợi quá khứ hạnh phúc giữa mình với Kim Trọng cho Vân.
+ “giữ - của chung - của tin”
“Của chung” là của Kim, Kiều nay là cả của Vân nữa
“Của tin” là những vật gắn bó gợi tình yêu thiêng liêng của Kim - Kiều: mảnh hương, tiếng đàn.
=> Sự giằng xé trong tâm trạng Thúy Kiều: Kiều chỉ có thể gửi gắm mối duyên dang dở cho Vân chứ không thể trao hết tình yêu mặn nồng xưa kia giữa nàng và Kim Trọng.
- Lời dặn dò của Kiều với Vân:
+ Kiều dự cảm về cái chết : hiu hiu gió, hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, người thác oan
-> Dự cảm không lành về tương lai, sự tuyệt vọng tột cùng. Kiều tưởng tượng ra cảnh mình chết oan, chết hận. Hồn không sao siêu thoát được bởi trong lòng đang nặng lời thề ước với Kim Trọng.
=> Sự đau đớn, đầy tuyệt vọng của Kiều, tấm lòng thủy chung một lòng hướng về Kim trọng của Kiều.
+ Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân
“Đền nghì trúc mai” : Đền ơn đáp nghĩa.
“Rưới xin giọt nước” : Tẩy oan cho chị.
-> Nỗi bứt rứt, dằn vặt trong lòng Kiều, Kiều như càng nhớ, càng thương Kim Trọng hơn bao giờ hết.
* Tâm trạng của Thúy Kiều khi trở về thực tại, hướng về tình yêu của mình và Kim Trọng
- Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
- “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng” -> Nàng ý thức rõ về cái hiện hữu của mình.
=> Gợi tả số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc bẽo, lênh đênh trôi nổi.
- Nghệ thuật đối lập: quá khứ với hiện tại
-> Khắc sâu nỗi đau của Kiều trong hiện tại.
- Hành động
+ Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt (khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu)
+ Tự nhận mình là người phụ bạc -> Day dứt, mặc cảm.
+ Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.
+ “Kim Lang”: cách gọi thân mật như vợ chồng.
-> Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là lòng vị tha, đức hy sinh cao quý.
- Từ cảm thán (Ôi, hỡi, thôi thôi): tiếng kêu đầy tuyệt vọng, tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo bất công chà đạp số phận con người.
* Đánh giá về nghệ thuật
- Nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật hết sức tài tình
- Sử dụng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện.
- Sử dụng hình ảnh giàu giá trị biểu cảm
- Nghệ thuật xây dựng lời thoại và độc thoại nội tâm nhân vật
- Sự kết hợp đặc sắc giữa ngôn ngữ dân gian (thành ngữ) và bác học (điển tích, điển cố,...).