A. Chung cảnh ngộ, giai cấp - Hai câu đầu:
- Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ. Họ như đang tâm sự cùng nhau.
+ Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình.
+ Thành ngữ “nước mặn đồng chua” gợi ra hình ảnh quê hương vùng chiêm chũng đất đai nhiễm phèn, nhiễm mặn khó làm ăn.
+ Hình ảnh “đất cày lên sỏi đá” - mang chất liệu thành ngữ, gợi vùng quê nghèo nơi đồi núi trung du đất đai khô cằn, khó canh tác, trồng trọt.
“Quê anh ”và “làng tôi”đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi " mặn đồng chua” - là xứ sở của “đấtcày lên sỏi đá”
- Tác giả đã mượn thành ngữ, chất liệu thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn rau cắt rốn thân yêu của những người chiến sĩ. Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân dã đúng như con người vậy - những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lần đầu mặc áo lính lên đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính là cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí.
- Chung nhiệm vụ, lí tưởng - 3 câu thơ tiếp;
Câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, cảm xúc thơ như dồn tụ, nén chặt lại. Những ngày đầu, đứng dưới lá quân kì, những chàng trai ấy còn là “đôi người xa lạ” mỗi người một phương trời “chẳnghẹnquen nhau”. Nhưng rồi cùng với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng biết bao kỉ niệm: “Sủng bên sủng, đầu sát bên đầu”
“ Súng bên súng” là cách nói hàm súc, giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung lí tưởng chiến đấu. Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc - ‘‘Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Hình ảnh “Đầu sát bên đầu ”lại diễn tả sự đồng ý, đồng tâm, đồng lòng của hai con người đó.
B. Chung mọi gian lao, thiếu thốn - 2 câu tiếp:
“Đêm rét chung chăn thành đôi trí kỉ” lại là câu thơ ắp đầy kỉ niệm về một thời gian khó, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ nửa – Chănsuiđẳp cùng” Và như thế mới thành “đôi kỉ” để rồi đọng kết lại là “Đồng chí!”.“Tri kỉ” là hiểu bạn như hiểu mình, ý nói những người bạn rất thân.
=> Tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giản dị, nhưng rất chuẩn xác: “bên”, “chung”. Từ “bên” qua “sát”đến “chung” là cả một hành trình. Trong hành trình ấy tình cảm cứ đượm dần lên thành tình đồng chí.
Đồng chí!
“Đồng chỉ” - hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao! Nỏ diễn tả niềm tự hào, xúc động, cứ ngân vang lên mãi. Xúc động bởi đó là biểu hiện cao nhất của một tình bạn thắm thiết, đẹp đẽ. Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của những con người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng một lí tưởng, ước mơ. Câu thơ được tách riêng, độc lập, là một câu đặc biệt gồm một từ hai âm tiết đi cùng dấu chấm than, như nốt nhấn trong một bản đàn, một phát hiện, một vỡ lẽ bất ngờ, một chiêm nghiệm chín chắn, một lời khẳng định tình cảm của những người đồng đội, tình cảm cách mạng, tình cảm chỉ có ở thời đại mới.
“Đồng chỉ” - ấy là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp: tình giai cấp, tình bạn, tình người trong chiến tranh. Hai tiếng “đồng chỉ”bởi vậy mà giản dị, đẹp đẽ, sáng ngời và thiêng liêng.
Câu thơ còn như bản lề gắn kết hai phần của bài thơ, khép lại cảm xúc ở 6 câu đầu nói về cơ sở của tình đồng chí, đồng thời mở ra cảm xúc ở 10 câu tiếp theo nói về những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí.