1. Mở bài:
Giới thiệu vấn đề nghị luận. Nêu ý kiến được đưa ra
2. Thân bài:
_GIải thích nhận định. Nhận định đúng hay sai.
_Giới thiệu bài thơ Vội vàng.
_ Chứng minh nhận định qua việc phân tích bài thơ.
+ Tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm say mê với đời, với cuộc sống của thi nhân.
+ Những băn khoăn, trăn trở trước thời gian và cuộc đời chảy trôi vô định
+ Khát vọng sống, khao khát sống cuồng nhiệt của tác giả.
3. Kết bài:
Suy nghĩ của bản thân về tình yêu đời, yêu người của Xuân Diệu
Bài làm
Viết về Xuân Diệu, nhà phê bình Hoài Thanh nhận định: "Xuân DIệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới". Điều đó thật đúng khi ta đọc, tìm hiểu thơ ông. Tiếng thơ Xuân Diệu khát khao, nồng nhiệt và đặc biệt rất đỗi xúc cảm trong muôn vàn những cung bậc tình cảm khác nhau. Và có ý kiến nhận định rằng: Xuân Diệu là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời. Ta phải hiểu ý kiến trên ra sao. Đặc biệt, khi đặt nó trong bài thơ Vội vàng, ta như có thêm được những chân trời của kiến thức mới.
Ý kiến trên đã cho thấy sự hàm súc trong thơ văn Xuân DIệu. Thơ ông, đặc biệt là Vội vàng, đó là sự kết tinh của bao tình cảm, bao nỗi niềm dồn nén. Những suy tư, những trăn trở... tạo nên một tiếng thơ khát khao, giao cảm và đau đáu trong nỗi niềm. Tình yêu như ánh sáng soi rọi từng câu chữ của Xuân Diệu, và Vội vàng, tiếng thơ ấy sao mà trong trẻo, thiết tha.
Vội vàng là một thi phẩm đặc sắc của Xuân Diệu. Bài thơ được viết năm 1938, trong những phút giây chiêm nghiệm, cảm nhận của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất trời. Đến nay, Vội vàng vẫn luôn được xem là thi phẩm thơ tình độc đáo của Xuân Diệu gửi đến mỗi bạn đọc.
Tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm say mê của tác giả được thể hiện trong những câu thơ đầu tiên đem đến bao niềm giao cảm thiết tha. Đó là thứ khát khao mãnh liệt mà chân thành, đằm thắm đến lạ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt nữa
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
SỰ mạnh mẽ, nét cá tính trong Xuân Diệu được khẳng định trong một loạt những điệp từ "tôi muốn". Ở đây, tác giả đã nhấn mạnh những ước muốn mà ta tưởng chừng như vô lí, viển vông. Mong muốn tắt nắng, buộc gió đâu phải vì mong làm một điều gì cá nhân, riêng tư. CHỉ là ông muốn giữ cho hương sắc cuộc đời tươi đẹp. Chống lại quy luạt tự nhiên, Xuân DIệu cho ta thấy một cái tình nồng thắm, thiết tha đến vô cùng. Chắc cũng có lẽ bởi đời đẹp quá làm thi nhân chẳng thể tách xa. Bức tranh mặt đất chính là thiên đường của bao yêu thương nồng hậu. Bức tranh được tái hiện chân thực, sinh động qua khổ thơ với một loạt hình ảnh liệt kê như: “ong bướm tuần tháng mật”, “hoa của đồng nội xanh rì”, “yến anh khúc tình si”, “ánh sáng chớp hàng mi”. Mọi thứ đều tô điểm và làm đẹp bức tranh cuộc đời vui tươi, náo nức vô cùng vô tận. -Thi nhân đắm say, thi nhân yêu thiên nhiên cũng chính bằng tình yêu trọn vẹn đến thế! Một bức tranh thiên nhiên với vẻ đẹp rực rỡ, tràn trề của ánh sáng, của màu sắc và hương thơm. Đó quả là thiên đường lí tưởng cho cái đẹp, cho niềm yêu và làm lòng người náo nức, vui sướng. So sánh của Xuân Diệu độc đáo và ấn tượng vô cùng: "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần". Có lẽ trong thơ ca, chưa ở đâu ta bắt gặp hình ảnh so sánh độc đáo, ấn tượng và gây xúc động mạnh đến thế với thị giác, với trí tưởng tượng của con người. SỰ rạo rực, sự vui sướng nơi thi nhân làm lòng người cũng tràn ngập hân hoan, háo hức, vui tươi:
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Từ láy sung sướng diễn tả niềm vui sướng tột độ trong nhân vật trữ tình. Vậy nhưng, xúc cảm ấy lại dừng lại đầy đột ngột trong từ Nhưng. Nhưng ấy thức tỉnh thi nhân và để thi nhân của chúng ta phải vươn mình nhằm nắm bắt cuộc đười này.
Trong thi nhân không chỉ có yêu, không chỉ có chìm đắm. Ở ông, ta còn bắt gặp niềm băn khoăn trước những chảy trôi của thời gian và cuộc đời.
Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng liên tiếp trong thơ Xuân Diệu. Điệp từ “nghĩa là” cùng với những từ ngữ đối lập cho ta thấy được trôi đi của thời gian và tuổi trẻ. CUộc đời là sự vận động không ngừng. Dẫu cho thiên nhiên, dẫu cho mùa xuân tươi đẹp thì cũng sẽ chảy trôi vô tận. Tuổi trẻ, tuổi xuân ấy rồi cũng một đi không trở lại làm lòng người xốn xang. Điệp từ: "phải chăng" vừa như một lời để hỏi, lại như một niềm trăn trở suy tư của cảm xúc trong tôi. Xuân DIệu dùng rất nhiều những hình ảnh thơ đối lập: “lòng tôi rộng” – “lượng trời chật”, “xuân tuần hoàn” – “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, “còn trời đất” – “chẳng còn tôi mãi” phải chăng là vì muốn bộc lộ nỗi trăn trở, nỗi suy tư và cả niềm ngậm ngùi tiếc nuối trong ông lúc này.
Nhưng mọi thứ dù đau, dù xót xa cũng chẳng thể ngăn trở một khát vọng sống cuồng nhiệt của tác giả. Cái tôi trữ tình mạnh mẽ vươn mình để khẳng định giá trị bản thân trong những điều tươi đẹp ,lớn lao. Ở đây, có sự chuyển biến trong tôi, không còn là tôi cá nhân mà là cái ta, cái ta hòa nhập. Nỗi khát khao cháy bỏng, muốn sống, muốn yêu, muốn đi ngược với tự nhiên và tạo hóa để đoạt lấy tuổi trẻ được thể hiện rất cụ thể và độc đáo qua một loạt từ ngữ như: “ôm” – “riết” – “say” – “thâu” – “cắn”. Có thể khẳng định rằng, Xuân Diệu đã dùng rât nhiều những động từ mạnh theo cấp độ tăng dần để nhằm diễn tả niềm xúc động, niềm khát khao tột độ trong ông lúc này. Từng lời thơ như giục giã con người sống vội vàng, sống sôi nổi. Và hơn cả như vậy, tình yêu, niềm khao khát được dâng lên trọn vẹn, tuyệt đối và làm nao lòng người. Cái tôi khát khao sống, cái tôi tận hưởng, cái tôi nhiệt thành của tuổi trẻ như một tiếng ca rộn rã vui tươi. Ông hoàng thơ tình của chúng ta chìm mình trong nỗi niềm chiếm đoạt, mong muốn hiến dâng, mong muốn tận hưởng và làm đời thêm muôn phần đẹp tươi.
Qua Vội vàng, quả thực tài năng Xuân Diệu càng được khẳng định rõ nét. Chính khúc ca vang Vội vàng đã minh chứng cho khát khao giao cảm với đời của nhà thơ. NHững thủ pháp nghệ thuật như so sánh, liệt kê cùng một loạt những hình ảnh đối lập đã minh chứng, khằng định được tài năng của nhà thơ, Ông đã mang sức xuân truyền vào câu chữ, truyền vào tuổi trẻ và làm đẹp tất cả chúng ta.