Bài tập 1: Nêu chức năng của các câu trần thuật sau:
a. Con là một đứa trẻ nhạy cảm.
b. Kẻ ở cạn, người ở dưới nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở với nhau lâu dài được.
c. Ngày mai, tôi sẽ đi Hải Phòng.
d. Cái đầu lão nghoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít.
e. Ngày xưa ở quận Cao Bình có hai vợ chồng già mà không có con.
g. Đêm nay, đến phiên anh canh miếu thờ, ngặt vì anh đang cất giở mẻ rượu, em chịu khó thay anh, đến sáng thì về.
Bài 2: Những câu trần thuật in đậm dưới đây có gì đặc biệt? Chúng được dùng để làm gì?
a. Thôi em chào cô ở lại. Chào tất cả các bạn, tôi đi.
b. Thôi tôi ốm yếu quá rồi, chết cũng được. Nhưng trước khi nhắm mắt, tôi khuyên anh: ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy.
Bài 3: Đặt câu trần thuật dùng để hứa hẹn, cảm ơn, chúc mừng, cam đoan.
Bài 4: Tìm các từ ngữ phủ định trong các câu sau và cho biết câu nào là câu phủ định miêu tả, câu nào là câu phủ định bác bỏ? Vì sao?
a. Đứa trẻ lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu nằm đấy. (Thánh Gióng)
b. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng cho ông đốc. (Thanh Tịnh)
c. Lạy chị, em có nói gì đâu! (Tô Hoài)
d. Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về. (Nguyên Hồng)
e. Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu. (Nam Cao)
Bài 5: Chỉ ra sự khác nhau của hai câu sau:
a. Tôi chưa ăn cơm. b. Tôi không ăn cơm.
Bài 5
a. Đặt một câu phủ định để miêu tả nhằm xác định không có sự vật.
b. Một câu phủ định để bác bỏ. c. Một câu phủ định để khẳng định.
Bài 4: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 10 câu, trình bày suy nghĩ của em về bức thông điệp “Hãy đứng yên khi Tổ quốc cần”, trong đoạn văn có sử dụng một câu phủ định, một câu phủ định để khẳng định (gạch chân).