Câu 1 :
*Tình hình giáo dục, khoa cử
Nhà Lê sơ rất quan tâm đến giáo dục và việc đào tạo nhân tài:
- Dựng lại Quốc tử giám ở kinh đô Thăng Long, mở trường ở các lộ.
- Mọi người đều có thể đi học, đi thi.
- Tuyển chọn người có tài, có đức làm thầy giáo.
- Mở khoa thi để chọn người tài ra làm quan.
- Những người thi đỗ tiến sĩ trở lên được vua ban áo mũ, phẩm tước, được vinh quy bái tổ, được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miêu (bia tiến sĩ).
- Trong thi cử, cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng.
*Nhận xét
Nền giáo dục và khoa cử thời Lê Sơ rất phát triển so với các thời đại trước
*Ngày nay, chúng ta có thể áp dụng:
- Mở mang các trường học
- Những bạn nhỏ ở tuổi học sinh đều phải được đến trường
- Tổ chức thi học sinh giỏi
- Những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi học sinh giỏi nhận được bằng khen
- Thi cử công bằng
Câu 2 :
TƯ TƯỞNG TÔN GIÁO
- Tình hình tư tưởng tôn giáo thế kỷ XVI-XVIII:
+ Nho giáo từng bước suy thoái, trật tự phong kiến bị đảo lộn.
+ Phật giáo, Đạo giáo có điều kiện khôi phục lại, nhưng không phát triển mạnh như thời Lý-Trần.
+ Thiên Chúa giáo được truyền bá ngày càng rộng rãi, trở thành một tôn giáo lan truyền trong cả nước.
+ Tín ngưỡng truyền thống được phát huy: thờ cúng tổ tiên, thần linh, anh hùng dân tộc.
- Nhờ đó mà đời sống tín ngưỡng ngày càng phong phú.
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ VĂN HỌC
a) Giáo dục
- Trong khi tình hình chính trị không ổn định, giáo dục Nho học vẫn tiếp tục phát triển.
+ Giáo dục ở Đàng Ngoài vẫn như cũ nhưng sa sút dần về số lượng.
+ Đàng Trong: 1646 chúa Nguyễn tổ chức khoa thi đầu tiên.
+ Thời Quang Trung: Đưa chữ Nôm thành chữ viết chính thống.
- Giáo dục tiếp tục phát triển song chất lượng giảm sút. Nội dung giáo dục Nho học hạn chế sự phát triển kinh tế.
b) Văn học
- Thế kỷ XVI-XVII, cùng với việc Nho giáo suy thoái, văn học chữ Hán giảm sút so với giai đoạn trước.
- Văn học chữ Nôm phát triển mạnh những nhà thơ nổi tiếng như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Phùng Khắc Hoan
- Dòng văn học trong nhân dân nở rộ với các thể loại phong phú: ca dao, tục ngữ, lục bát, truyện cười, truyện dân gian... mang đậm tính dân tộc và dân gian.
- Thế kỷ XVIII chữ Quốc ngữ xuất hiện nhưng chưa phổ biến.