Atlat
– Mật độ dân số được biểu hiện bằng phương pháp nền số lượng. Các thang mật độ dân số được lựa chọn (mật độ càng thấp thì màu càng nhạt, mật độ càng cao thì màu càng đậm) phản ánh đặc điểm phân bố của dân cư của Việt Nam. Dân cư tập trung chủ yếu ở đồng bằng, thưa thớt ở trung du, miền núi. Ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số, mật độ dân số cao. Ở vùng trung du, miền núi mật độ dân số thấp hơn nhiều so với đồng bằng, trong khi vùng này tập trung nhiều tài nguyên thiên nhiên quan trọng của đất nước.
– Trên nền mật độ dân số, các điểm dân cư đô thị được thể hiện theo quy mô dân số và cấp đô thị. Phương pháp thể hiện các điểm dân cư đô thị là phương pháp kí hiệu với dạng kí hiệu hình học. Quy mô dân số của các điểm dân cư được thể hiện thông qua kích thước và hình dạng kí hiệu với bậc thang số lượng cấp bậc quy ước. Cấp đô thị được thể hiện theo kiểu chữ, từ đô thị cấp đặc biệt đến các đô thị loại 1, 2, 3, 4 và 5. Chẳng hạn, thông qua kiểu chữ chúng ta nhận dạng được Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt ; Đà Nẵng là đô thị loại 1 ; Cần Thơ, Biên Hòa, Quy Nhơn…là đô thị loại 2.
– Phân tích bản đồ để thấy được đặc điểm phân bố dân cư nước ta giữa khu vực đồng bằng và miền núi, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền Bắc và miền Nam không đều. Nguyên nhân là do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và lịch sử khai thác lãnh thổ.
– Các điểm dân cư đô thị bao gồm : quy mô dân số và phân cấp đô thị.
-Biểu đồ dân số Việt Nam qua các năm, từ biểu đồ này có thể thấy được tốc độ tăng dân số qua từng thời kì, tương ứng với các giai đoạn phát triển dân số (1960-1989; 1989-2007), mỗi giai đoạn có đặc điểm kinh tế – xã hội nhất định.
– Biểu đồ tháp dân số cho thấy được đặc điểm về giới tính, độ tuổi, tuổi thọ và xu hướng phát triển dân số của nước ta.
– Biểu đồ cơ cấu lao động đang làm việc phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 1995-2007 cho thấy đặc điểm cơ cấu dân số hoạt động chủ yếu trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp, điều đó phản ánh trình độ phát triển kinh tế nước ta.