Chuyển biến trong kinh tế- xã hội
*Sự ra đời của nghề nông trồng lúa nước ( thông cảm, không bt )
Nước Văn Lang
* Hoàn cảnh ra đời của nhà nước Văn Lang:
- Vào thế kỉ VIII - VII TCN, ở vùng đồng bằng ven các con sông lớn thược Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày này, đã hình thành những bộ lạc lớn. Sản xuất p. triển, mâu thuẫn giữa người nghèo và người giàu nảy sinh và ngày càng tăng thêm.
- Việc mở rộng nghề nông trồng lúa nước ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn thường xuyên phải đối mặt vs lũ lụt, hạn hán -> Cần phải có một người đứng ra tập hợp nhân dân các làng để giải quyết vấn đề thủy lợi, bảo vệ mùa màng và sản xuất dời sống.
- Ngoài mâu thuẫn giữa kẻ giàu ng nghèo thì các làng bản khi giao lưu vs nhau cx xảy ra xung đột, đó là xung đột giữa ng` Lạc Việt vs các bộ tộc ng` khác và cả giữa các bộ tộc Lạc Việt vs nhau
-> Cần phải có một thế lực đủ sức giải quyết các xung đột đó.
==> Nhà nước Văn Lang ra đời.
* Đời sống vật chất của cư dân văn An:
-Nước Văn Lang là một nước công nghiệp, thóc lúa trở thành lương thực chính, ngoài ra, cư dân còn trồng thêm khoai, đậu, cà, bầu, bí, chuối, cam.
- Ở: phổ biến là nhà sàn mái cong hình thuyền hay mái tròn hình mui thuyền, làm bằng gỗ, tre, nứa, lá, có cầu thang tre (hay gỗ) để lên xuống.
- Làng, chạ thường gồm vài chục gia đình, sống quây quần ở ven đồi hoặc ở vùng đất cao ven sông, ven biển, ở một vài làng, chạ, người ta đã biết dùng tre rào quanh làng để ngăn thú dữ.
- Đi lại: chủ yếu bằng thuyền.
- Ăn: thức ăn chính hằng ngày là cơm nếp, cơm tẻ, rau, cà, thịt, cá. Trong bữa ăn, người ta đã biết dùng mâm, bát, muôi. Họ còn biết làm muối, mắm cá và dùng gừng làm gia vị.
- Mặc: Ngày thường, nam thì đóng khố, mình trần, đi chân đất; còn nữ thì mặc váy, áo xẻ giữa, có yếm che ngực. Mái tóc có nhiều kiểu: hoặc cắt ngắn bó xõa, hoặc búi tó, hoặc tết đuôi sam thả sau lưng. Ngày lễ, họ thích đeo các đồ trang sức như vòng tay, hạt chuỗi, khuyên tai. Phụ nữ mặc váy xòe kết bằng lông chim, đội mũ cắm lông chim hay bông lau.
Nước Âu Lạc
* Cuộc kháng chiến chống quân Tần:
+ Năm 218 TCN, vua Tần sai quân đánh xuống phương Nam để mở rộng bờ cõi. Sau 4 năm chinh chiến, quân Tần kéo đến vùng Bắc Văn Lang, nơi người Lạc Việt cùng sống với người Tây Âu (hay Âu Việt), vốn có quan hệ gần gũi với nhau từ lâu đời.
- Diễn biến:
+ Cuộc kháng chiến bùng nổ. Người thủ lĩnh Tây Âu bị giết nhưng nhân dân Tây Âu - Lạc Việt không chịu đầu hàng, sử cũ Trung Quốc chép: “Người Việt trốn vào rừng, không ai chịu để quân Tần bắt... Rồi họ đặt người kiệt tuấn lên làm tướng, ngày ở yên, đêm đến ra đánh quân Tần”.
+ Người kiệt tuấn đó là Thục Phán.
- Kết quả:
+ Cuộc chiến đấu kiên cường, quyết liệt của cư dân Tây Âu - Lạc Việt đã làm quân Tần như “đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái không xong".
+ Sáu năm sau, “người Việt đã đại phá quân Tần, giết được Hiệu úy Đồ Thư”. Nhà Tần phải hạ lệnh bãi binh.