- Độ dày của khí quyển: Khí quyển được chia làm 3 tầng: tầng đối lưu, tầng bình lưu và các tầng cao của khí quyển với độ dày lên tới 10.000km. Ở độ 16km sát mặt đất không khí tập trung nhiều nhất lên đến 90%.
- Khí áp là sức ép của khí quyển lên bề mặt Trái Đất. Muốn biết khí áp là bao nhiêu người ta dùng 1 dụng cụ đo gọi là khí áp kế.
- Mật độ không khí càng dày thì khí áp càng tăng.
- Nơi có khí áp lớn hơn mức trung bình chuẩn ( khí áp chuẩn 760mmhg) là khí áp cao.
- Trên TĐ khí áp được phân bố xen kẽ và đối sứng nhau qua áp thấp xích đạo ( 1 áp thấp XĐ, 2 áo cao Chí tuyến, 2 áp thấp vòng cực, 2 áp cao cực)
II.gió và hoàn lưu khí quyển.
- Gió là sự di chuyển của không khí từ khu vực áp cao về khu vực áp thấp, nguyên nguyen sinh ra gió là do gió.
- trên TĐ có 3 loại gió chính: tín phong, ôn đới và đông cực.
- Hoàn lưu khí quyển là sự lặp đi lặp lại của các luồng không khí trên diện rộng.
- gió tín phong thổi từ 2 chí tuyến về xích đạo ( 30 độ Bắc và Nam về 0 độ).
- gió Tây ôn đới thổi từ 30 độ bắc và nam về 60 độ Bắc và Nam.
- Gió đông cực thổi từ 90 độ Bắc và Nam về 60 độ Bắc và Nam.
- Do ảnh hưởng của lực cry-olit, lên gió tín phong và gió Tây Ôn đới không thổi theo hướng kinh tuyến và có hướng lệch theo chiều chuyển động.