Đề bài: Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn.

Bài làm

Lỗ Tấn (1881 - 1936), nhà văn lớn của Trung Quốc, được mệnh danh là "Chủ tướng của cách mạng văn hoá Trung Quốc". Một trong những vấn đề lớn mà Lỗ Tấn quan tâm là dùng ngòi bút để đánh thức tinh thần dân tộc, ý chí tự cường, chống lễ giáo phong kiến lạc hậu và chống đế quốc. Trong tình trạng xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, Lỗ Tấn nhận thấy một căn bệnh tinh thần phổ biến trong nhân dân. Đó là sự trì trệ, mông muội, u mê về dân trí, hậu quả của hàng nghìn năm phong kiến đè nặng lên đời sống dân tộc. Để chữa được căn bệnh tinh thần ấy, trước hết phải tìm đúng bệnh, phê phán và chỉ ra con đường khắc phục. Chí có làm việc này, đất nước Trung Quốc mới có thể hướng tới một tương lai tươi sáng và tốt đẹp hơn.

Thuốc được viết năm 1919, kể về việc chữa bệnh lao bằng cách ăn bánh bao thấm máu người chết chém và cuối cùng bệnh vẫn không khỏi. Nhưng nội dung tác phẩm không đơn giản chỉ như vậy mà còn đăt ra một vấn đề lớn và khái quát hơn : sự tê liệt, u mê, mông muội của quần chúng và bi kịch không được hiểu, không được ủng hộ của người cách mạng tiên phong. Từ đó, nổi lên một câu hỏi đầy nhức nhối, đớn đau : Phải tìm phương thuốc nào để chữa chạy căn bệnh u mê, đớn hèn của dân tộc?

Cốt truyện Thuốc rất đơn giản. Chỉ vài nét chấm phá với vài ba cảnh, vài ba nhân vật, nhưng có sức gợi điển hình vẻ một đất nước Trung Hoa u ám, nặng nề, nghèo khổ, lạc hậu, cấp thiết phải tự giải phóng.

1. Phương thuốc của sự u mê.

Mở đầu truyện là cảnh đêm thu gần về sáng, trăng lặn rồi nhưng mặt trời chưa mọc. Trong lúc mọi người còn ngủ say cả, hai vợ chồng ông chủ quán trà đã thức dậy, cẩn trọng dồn những đồng tiền chắt chiu, dành dụm từ bao giờ, một bọc tiền đồng, mang đi mua thuốc cho đứa con trai duy nhất đang kiệt quệ, mỏi mòn vì bệnh lao. Thứ thuốc này thật kì quặc, khó tin, nhưng với vợ chồng lão Hoa, lại là phương thuốc đặc biệt, đầy linh diệu, có thể chữa khỏi bệnh lao. Đi lấy thuốc là việc vô cùng hệ trọng, cơ hội hiếm có. Điều đó làm cho cả hai vợ chồng càng xúc động mạnh : bà Hoa giương to mắt, môi run run, còn lão Hoa thì tay cứ run run khi cầm và cất gói tiền vợ đưa.

Niềm tin vào tính chất kì diệu của phương thuốc đã trở thành nguồn ánh sáng soi chiếu từ bên trong dẫn đường cho lão Hoa đi trong đêm tối, giúp lão tãng thêm sinh lực sống : trời lạnh hơn, nhưng lão cảm thấy sảng khoái, như bỗng dưng mình trẻ lại và ai ban cho phép thần thông cải tử hoàn sinh. Tuy nhiên trong đáy tâm thức, lão Hoa vẫn mơ hồ nhận thấy việc đi lấy thuốc có gì ma quái, ghê rợn : lão thấy hơi lành lạnh. Không phải ngẫu nhiên mà đương đi, chiếc đèn lồng của lão tự nhiên tắt và xung quanh là lũ lượt những người trông như kẻ chết đói, như những bóng ma, kì dị, quái lạ. Một cảnh tượng ghê rợn bao trùm. Lão như rơi vào chốn địa ngục vậy. Trong cái đêm mùa thu mờ sáng lạnh lẽo ấy, đâu chỉ có mình lão Hoa lặn lội, lọ mọ đi đến ngã ba đường (nơi pháp trường chém người) nọ, mà có biết bao người cùng đổ xô đến đây. Ngoài những kẻ hiếu kì, liệu còn có bao nhiêu con người cùng mang một niềm tin, trong sự tuyệt vọng khốn khổ vào phương thuốc tuyệt vời này ? Có lẽ rất đông, bởi lão Hoa chỉ thấy lưng người, cả đám xô đẩy nhau ào ào, bao nhiêu người đi qua, xô nhào tới như nước thuỷ triều. Đủ thấy một niềm tin mông muội, u mê bao trùm lên đời sống bao người.

Phương thuốc ấy là gì ? Đó là chiếc bánh bao tẩm máu người : một chiếc bánh bao nhuốm máu đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt. Nghe nói, ăn thứ bánh bao này, bệnh tật gì cũng tiêu tan. Tuy vậy, phương thuốc ấy vẫn đầy quái lạ, nên lão Hoa vẫn rờn rợn, sợ hãi : lão vội vàng móc gói bạc trong túi ra, run run định đưa cho người mặc áo quần đen, nhưng lại ngại không dám cầm chiếc bánh. Nhưng khi về, cầm chắc gói "thuốc" trong tay, tâm trạng lão Hoa trở nên phấn khởi, tin tưởng. Đây thật là niềm cứu tinh cho cuộc đời lão : Lão để hết tinh thần vào gói bánh... lão sẽ mang cái gói này về nhà, đem sinh mệnh lại cho con lão và lão sẽ sung sướng biết bao ! Niềm tin đã biến thành niêm vui và hi vọng. Mặt trời đã mọc, chiếu sáng khắp nơi, như hoà cùng hi vọng vể một tương lai tốt đẹp đang cháy sáng trong lòng người cha khốn khổ!

Cảnh chế biến và ăn thuốc diễn ra trang trọng giống như một nghi thức hành lễ nhưng vẫn phảng phất không khí ghê rợn. Thái độ nghiêm trang, thành kính của hai ông bà Hoa, khi hai ông bà cùng im lặng run run, bí mật chế biến thuốc, bộc lộ sự tin tưởng thành kính, sâu sắc vào "thần dược", nhưng vẫn không át được cái ghê rợn của phương thuốc ma quái qua những hình ảnh cái chao đèn rách nát loang lổ máu, chiếc bánh đẫm máu, ngọn lửa đỏ sẫm bốc lên, một mùi thơm quái lạ tràn ngập cả quán trà. Nhìn đứa con ăn thuốc, hai ông bà tràn ngập niềm hi vọng : lão Hoa đứng một bên, bà Hoa đứng một bên, trố mắt nhìn con như muốn rót vào người con một cái gì, đồng thời cũng muốn lấy ra một cái gì. Người mẹ cứ lặp đi lặp lại câu nói : sẽ khỏi ngay vừa như khẳng định một hi vọng, vừa như trấn an cả con lẫn bản thân mình. Niềm tin ấy còn được củng cố thêm bằng những lời lẽ dồn dập, khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột của bác Cả Khang, người đã mách phương thuốc đặc biệt này : May phúc cho nhà ông đấy nhé! ; Cam đoan thế nào cũng khỏi ; Cam đoan thế nào mày cũng khỏi ; Nhất định khói thôi mà ! Cam đoan khỏi mà!,...

Niềm tin ấy diễn tả sự u mê, lạc hậu đến mức cùng cực của nhân dân Trung Quốc thời bấy giờ.

2. Hình tượng người cách mạng Hạ Du.

Bánh bao được thấm máu người tử tù. Người tử tù đó là một người cách mạng tên là Hạ Du. Hạ Du có một vị trí đặc biệt trong câu chuyện. Đứng về mặt cấu trúc cốt truyện, Hạ Du chỉ xuất hiện trong con mắt của các nhân vật khác, tuy nhiện, nhân vật này là yếu tố liên kết, xâu chuỗi, lắp ghép các tuyến nhân vật và sự kiện với nhau. Ở cảnh 1, chúng ta chưa hề biết Hạ Du là ai, mới chỉ có sự kiện : có người chết chém và có người xin bánh bao tẩm máu để chữa bệnh, ở cảnh 3, tác giả hé mở chút ít về thân thế Hạ Du : con nhà bà Tứ chứ con nhà ai, không ngờ hắn lại nghèo gặm không ra đến như thế; nằm trong nhà tù rồi mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc. Hạ Du là trung tâm bàn luận, bày tỏ thái độ nhận thức của mọi người về chính trị, về cách mạng. Cảnh 4, nấm mồ Hạ Du là nơi hai bà mẹ gặp gỡ, cảm thông, an ủi lẫn nhau.

Hạ Du là một trong những nhà cách mạng tiên phong của cách mạng Trung Quốc đầu thế kỉ XX. Anh có lí tưởng rõ ràng : lật đổ ngai vàng, đánh đuổi ngoại tộc, giành độc lập cho dân tộc. Câu nói "Thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta" (có nghĩa là nước Trung Quốc là của người Trung Quốc) được các nhà cách mạng dân chủ tư sản năm 1907 nêu ra và hô hào đồng bào nổi dậy chống triều đình Mãn Thanh. Hạ Du hiên ngang trước cái chết, dũng cảm tuyện truyền li tưởng cách mạng với cả tên cai ngục trong những ngày ở tù chờ án chém. Nhưng tất cả ý chí, mục đích, và hành động của anh lại được nhận thức một cách méo mó, đầy sai lạc trong con mắt của quần chúng nhân dân, điển hình là ông Ba (chú anh ta), bác Cả Khang và những người đang tụ tập ở quán trà lão Hoa. Dưới con mắt họ, Hạ Du chỉ là thằng khốn nạn, nhài con không muốn sống, quân làm giặc, kẻ điên khùng, đáng tội chết. Đối với họ hàng thì may mà tố giác được, nếu không thì cà nhà mất đầu hết. Đối với người bị bệnh thì may phúc quá vì lấy được thứ thuốc đặc biệt nhân dịp xứ chém anh ta ! Còn những kẻ khác nghe chuyện Hạ Du thì thú quá, ái chà chà, như nghe chuyện giặc cỏ bị trừng phạt vậy. Thật xót xa và đau đớn cho hình ảnh người cách mạng trong con,mắt của những quần chúng dốt nát và u mê.

Có thể nhận thấy, Hạ Du trong câu chuyện chính là hình ảnh nhà cách mạng nữ Thu Cận (người cùng quê với Lỗ Tấn, từng du học ở Nhật, sau mở tờ Trung Quốc nữ báo tuyên truyền giải phóng phụ nữ), một trong những nhà cách mạng Trung Quốc đặt nền móng cho cuộc cách mạng Tân Hợi, đã phải lên đoạn đầu đài lúc ba mươi sáu tuổi. Hạ Du là một cái tên khác của Thu Cận. Hạ đối với Thu, Du đối với Cận, đều là tên của hai loại ngọc sáng. Những người cách mạng ở đây là những người đang tiến hành cuộc cách mạng tư sản, mong muốn lật đổ chế độ phong kiến để đưa dân tộc Trung Hoa tới một tương lai tốt đẹp hơn.

Nhưng họ chỉ làm "cách mang bên trên", nghĩa là chỉ có một số người làm cách mạng, chưa chuẩn bị sự tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng. Vì vậy, điều họ làm chẳng được ai hiểu : nhân dân không hiểu, mẹ cha cũng không, họ hàng càng không. Điều ấy càng cho thấy không chỉ sự mê muội của dân trí mà còn cả sai lầm của những người làm cách mạng tư sản Trung Quốc. Thật là một bi kịch lớn !

3. Vòng hoa trên mộ - một hi vọng về tiền đồ cách mạng Trung Quốc.

Một buổi sáng mùa xuân ở nghĩa địa ven thành phố. Nghĩa địa những người chết chém hoặc chết tù ở về phía tay trái, và nghĩa địa của những người chết nghèo ở về phía tay phải. Cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này, lớp khác,... Hình ảnh này mang nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nghĩa địa người chết chém, chết tù để chung, nghĩa là người ta không hề phân biệt đâu là người làm cách mạng, làm chính trị hi sinh vì nhân dân và đâu là kẻ trộm cướp, giết người, tù hình sự, nghĩa là tất cả đều... làm giặc. Thứ hai, mộ của những người bị chính quyền bắt tù tội, giết chóc cũng nhiều như mộ của dân thường ! Một con số cân bằng diễn tả một thực trạng xã hội đen tối, tàn bạo, một bối cánh điển hình thê thảm như địa ngục của một nước Trung Hoa trung cổ.

Hai bà mẹ với hai ngôi mộ, cách nhau một con đường mòn. Hình ảnh con đường mòn thường được nhắc đến trong văn Lỗ Tấn diễn tả một thói quen, một nếp nghĩ, một kiểu ứng xử. Vì thế, con đường mòn tại nghĩa địa này đâu chỉ đơn thuần là ranh giới tự nhiên mà còn là ranh giới vô hình của lòng người, của định kiến lâu đời trong xã hội. Hai bà mẹ này, dù cùng chung nỗi đau mất con, nhưng giữa họ dường như bị ngăn cách bởi một không gian vô hình khó vượt qua.

Trong một khoảnh khắc xúc động, giàu cảm thông bởi cùng nhịp đập với trái tim bà mẹ khốn khổ kia, bà Hoa đã bước qua con đường mòn để bày tỏ niềm đồng cảm, chia sẻ với nỗi đau với mẹ Hạ Du. Phá bỏ khoảng cách vô hình ấy đâu có dễ dàng vì bà Hoa phải vượt qua một định kiến cố hữu, ghê sợ và khinh bỉ những kẻ tử tội : chỉ có những kẻ xấu xa, làm giặc mới bị tù, bị chết chém, loại người ấy đáng bị người đời nguyền rủa, xa lánh.

Người sống - mẹ tử tội đã được cảm thông. Còn kẻ nằm dưới đất, người cách mạng - Hạ Du, cũng được ai đó thấu hiểu, tiếc thương, trân trọng đặt một vòng hoa tưởng niệm. Vừa ngạc nhiên đến mức bàng hoàng, sửng sốt, vừa như ẩn giấu một niêm vui vì có người thấu hiểu con mình, bà mẹ Hạ Du cứ lặp đi lặp lại câu hỏi : Thế này là thế nào? Lời khóc sau đó của bà : Mẹ biết rồi ! Du ơi ! Trời còn có mắt... góp phần hé mở nguyên nhân của sự xuất hiện vòng hoa trên mộ Hạ Du. Tiếng khóc như bộc lộ dấu hiệu của sự thức tỉnh, giác ngộ. Trước đây, bà không hiểu con, và có thể, trong thâm tâm, bà vẫn cho rằng con mình làm giặc, nên lúc nãy, khi gộp bà Hoa ở nghĩa địa, bà vẫn còn ngập ngừng, xấu hổ ; còn từ giờ phút này, bà đã hiểu con mình, hiểu đường đi của con mình là đúng đắn, được người khác đồng tình.

Theo lời của chính Lỗ Tấn : "Trong truyện Thuốc, bỗng dưng tôi thêm một vòng hoa trên nấm mộ anh Du". Sự xuất hiện của vòng hoa ấy là câu trả lời về tương lai sự nghiệp cách mạng mà Hạ Du theo đuổi, là biểu hiện của lòng khâm phục nhân cách kiên cường của Hạ Du và là lời khẳng định một tiền đồ lạc quan tất yếu của cách mạng Trung Quốc. Đây cũng là một ý tưởng mang tính cách mạng của Lỗ Tấn.

4. Thuốc là một tiêu đề nhiều nghĩa.

Trước hết, đó là một phương thuốc chữa bệnh lao của những người dân Trung Quốc lạc hậu, tối tăm. Con người thời kì này không chỉ u mê trong nhận thức khoa học mà còn u mê trong cả nhận thức chính trị, xã hội. Thật là một cãn bệnh tinh thần trầm trọng cần phải chữa chạy, cần phải có một phương thuốc đặc biệt nếu dân tộc Trung Hoa muốn tự giải phóng khỏi hàng nghìn năm phong kiến. Thuốc còn có ý nghĩa thứ hai vì lẽ đó.

Thế giới của Thuốc tồn tại trong ba không gian đời sống, những khoảng không tối tăm, u ám, lạnh lẽo. Đó là một pháp trường như thế giới của những âm hồn và quỷ sứ, địa ngục : ánh mắt cú vọ ngời lên, bao nhiêu người kì dị hết sức, đi đi lại lại như những bóng ma, một người quần áo đen ngòm mắt sắc như hai lưỡi dao. Tiếp đó là không gian của một quán trà, nơi thông tin về mọi sự kiộn xảy ra trong hàng phố, chốn ồn ào đông đúc với rất nhiều nhận xét, quan điểm, tinh cảm, bộc lộ trình độ dân trí của đa số quần chúng nhân dân. Cuối cùng là một nghĩa địa mênh mông, lạnh lẽo : trời lạnh lắm, gió thì tắt, những ngọn cỏ khô đứng thẳng tắp, một tiếng rên rỉ, run run đưa lên giữa không trung nhỏ dần rồi tắt hẳn, một con quạ đen đậu trên cành khô trụi lá,... Tất cả mang bóng dáng của một không gian đen tối, ngột ngạt của xã hội Trung Quốc như thời trung cổ. Tuy nhiên, đến cuối câu chuyện, tác giả đã đưa con người hướng tới một không gian cao rộng hơn. Hai bà mẹ đã vượt ra khỏi tầm không gian chật hẹp của quán trà, không gian tối tăm, ma quái của pháp trường, không gian buồn thảm, lạnh lùng của nghĩa địa mà cùne vươn tới một không gian rộng mở theo cánh chim vút bay thẳng về phía chân trời xa.

Thời gian của câu chuyện diễn ra trong hai mùa : thu và xuân. Không hiểu vì sao cứ đến mùa thu thì người ta mới xử chém người, gọi là thu quyết. Phải chăng lá vàng rụng mùa thu gợi hình ảnh con người đi vào cõi chết ? Hai cái chết của hai người trai trẻ cũng diễn ra vào mùa thu. Họ chết rất khác nhau. Nhưng đến mùa xuân, hai bà mẹ cùng chung nỗi đau khổ đã đồng cảm, thông hiểu nhau. Diễn tả hai mùa, một mùa chuẩn bị khép lại, một mùa mở ra một năm mới, dường như tác giả tỏ bày một niềm hi vọng : lá vàng rụng xuống để tích nhựa cho chồi non. Sự sống sẽ được hồi sinh. Cùng với không gian mở cuối câu chuyện, khoảng thời gian mùa xuân này với những cây dương liễu mới đảm ra được những mầm non bằng nửa hạt gạo, đã gieo vào lòng người đọc một niềm hi vọng về một cuộc sống mới mẻ hơn, đỡ u ám hơn cho những số phận khổ đau trong thiên truyện.

Sức dồn nén cúa truyện ngắn Thuốc thật là lớn, đúng như lời nhà văn Nguyễn Tuân bình luận : "Trong một truyện ngắn của Lỗ Tấn, thường thấy rằng cái ngắn ấy chứa chất không biết bao nhiêu là sự sống, bao nhiêu là cuộc đời nhân dân lao động Trung Hoa, nó héo như đám cỏ bốn nghìn năm bị đè dưới tảng đá lịch sử. Lỗ Tấn viết truyện ngắn, đứng vào chỗ đám cỏ, hất hòn đá kia mà vồng ngọn lên. Truyện Thuốc, theo tôi nghĩ, đã đem được cái xanh rất khoẻ vào đám cỏ úa... Trong truyện, cái người bị chém đầu kia thật ra vẫn không chết, cái tinh thẩn của người ấy vẫn còn sống trong xung quanh, và hoa vẫn tươi trên mộ, đúng như Lỗ Tấn vẫn thường nói : Người chết chỉ chết thật, khi họ chết hẳn trong lòng người sống" .

Bài viết gợi ý: