Sáng kiến kinh nghiệm về tác phẩm Việt Bắc- Tố Hữu

ĐỀ TÀI: SỰ THỂ HIỆN PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU TRONG TÁC PHẨM VIỆT BẮC

NGƯỜI THỰC HIỆN: PHAN TRẦN THANH TÚ

MỤC LỤC
PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI …………………………………………………….1

  1. Lí do chọn đề tài: ………………………………………………………………….….1
  2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: ………………………………………………………1
  3. Phương pháp nghiên cứu:……………………………………………………………..2
  4. Đóng góp của đề tài: ………………………………………………………………….2
  5. Cấu trúc của đề tài: ……………………………………………………………………2

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ……………………………………………………3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ TỐ HỮU
VÀ TÁC PHẨM VIỆT BẮC …………………………………………………………3
1.1 Tác giả Tố Hữu: …………………………………………………………………….3
1.2. Tác phẩm Việt Bắc: ………………………………………………………………..4
1.3. Một vài lưu ý quan trọng khi nghiên cứu về tác giả Tố Hữu
và tác phẩm Việt Bắc: …………………………………………………………………..4
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC ………………………………………………………………………………6
2.1. Điểm qua một số công trình nghiên cứu văn học lớn ở Việt Nam vận dụng lí thuyết phong cách học: …………………………………………………………………………6
2.2. Nhận diện khái niệm Phong cách trong nghiên cứu văn học: ………………………7
CHƯƠNG 3: SỰ THỂ HIỆN ĐẶC TRƯNG PHONG CÁCH
CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU TRONG TÁC PHẨM VIỆT BẮC ……………………..8

  1. 1. Những tiếng lòng đồng vọng của kẻ ở – người đi: …………………………………8

3.2. Tiếng lòng người cán bộ về xuôi: …………………………………………………13
3.3. Không gian kháng chiến Việt Bắc và lời ca ngợi Đảng, Bác Hồ ……………………….20
PHẦN III: KẾT LUẬN ………………………………………………………………23
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………24
LỜI CAM ĐOAN …………………………………………………………………….25
PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

  1. Lí do chọn đề tài:

Việc giảng dạy tác phẩm Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ văn khối lớp 12 có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Đây không đơn thuần là việc giảng dạy, học tập một tác phẩm nghệ thuật mà còn là sự tìm hiểu và nhận thức sâu sắc về những chặng đường quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam và bồi dưỡng lòng yêu nước cho học sinh – thanh niên.
Tuy nhiên, đoạn trích được học trong sách giáo khoa lại rất dài về dung lượng (đến 10 khổ thơ dài) nên việc tìm hiểu trên lớp của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên gặp nhiều khó khăn. Nhất là thời lượng giảng dạy trên lớp không cho phép đi sâu phân tích kỹ từng khổ thơ, nhưng nhiều đề thi trong những năm qua lại yêu cầu học sinh phân tích từng khổ. Do vậy, học sinh làm bài sẽ gặp một số khó khăn nhất định.
Để giúp học sinh dễ dàng hơn trong học tập tác phẩm hay nhưng không hề dễ phân tích này, chúng tôi mạnh dạn chọn và giải quyết đề tài “Sự thể hiện phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu qua tác phẩm Việt Bắc”. Đề tài của chúng tôi nhằm hỗ trợ thêm cho các giáo viên khi giảng dạy tác phẩm này đồng thời cũng là nguồn tài liệu hữu ích cho học sinh khi học tác phẩm Việt Bắc. Chúng tôi kết hợp phân tích, bình giảng tác phẩm lớn này theo từng khổ thơ được trích trong sách giáo khoa, đồng thời kết hợp chỉ ra đặc trưng phong cách của nhà thơ Tố Hữu.

  1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu cơ bản của chúng tôi là 10 khổ thơ của bài thơ Việt Bắc được trích trong sách giáo khoa ngữ văn 12 (chương trình chuẩn). Đồng thời, chúng tôi, trong quá trình nghiên cứu, có mở rộng đối tượng khảo sát ra toàn bộ bài thơ Việt Bắc và tập thơ Việt Bắc cùng các tập thơ khác của Tố Hữu.
Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện chuyên đề, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như Phong cách học, Thi pháp học, Xã hội học tác giả… cùng các thao tác bổ trợ như so sánh – đối chiếu, phân loại, phân tích…

  1. Đóng góp của đề tài:

Chuyên đề dự kiến có những đóng góp cơ bản: Chỉ ra những đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc trong mối liên hệ với đặc trưng phong cách của nhà thơ Tố Hữu; làm tài liệu học tập hữu hiệu cho học sinh và tư liệu tham khảo cho giáo viên khi học tập – giảng dạy bài thơ Việt Bắc.

  1. Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, chuyên đề được cấu trúc thành các chương:
Chương 1: Khái quát về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc
Chương 2: Khái quát về phong cách học trong nghiên cứu văn học
Chương 3: Sự thể hiện đặc trưng phong cách của nhà thơ Tố Hữu trong tác phẩm Việt Bắc.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ TỐ HỮU VÀ TÁC PHẨM VIỆT BẮC
Những thông tin về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc là vấn đề không có tính mới đối với những chuyên đề như chúng tôi đang thực hiện. Do vậy chúng tôi chỉ trình bày hết sức vắn tắt và khúc chiết những chi tiết quan trọng mà khi giảng dạy cũng như khi làm bài học sinh không thể không nói. Những thông tin sau chỉ là khái lược.
1.1 Tác giả Tố Hữu:
Tố Hữu sinh năm 1920, tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế. Nhà thơ xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo. Cha và mẹ sớm đã truyền cho ông tình yêu với văn học. Năm 1938, ông được kết nạp Đảng và từ đó hiến dâng đời mình cho cách mạng. Năm 1939, ông bị bắt và bị giam qua nhiều nhà tù ở miền Trung và Tây Nguyên. Đến năm 1942, Tố Hữu vượt ngục ra Thanh Hoá, tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng Tám năm 1945, Tố Hữu lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, Tố Hữu liên tục giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Với những cống hiến lớn lao cho nghệ thuật và lịch sử dân tộc, năm 1996 Tố Hữu được Nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1.
Con đường nghệ thuật của Tố Hữu gắn liền với những chặng đường vàng son của cách mạng Việt Nam. Các tập thơ của ông đều gắn với những mốc son của lịch sử dân tộc: Từ ấy (1937-1946), Việt Bắc (1947 – 1954), Gió lộng (1955 – 1961), “Ra trận” (1962 – 1971), “Máu và hoa” (1972 – 1977), “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999).
1.2. Tác phẩm Việt Bắc:
Bài thơ “Việt Bắc” ra đời trong hàn cảnh lịch sử hết sức đặc biệt. Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, tháng 10 năm 1954, Trung ương Đảng quyết định rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”.
“Việt Bắc” là một đỉnh cao tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, đồng thời cũng là tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Nhan đề bài thơ được trang trọng lấy làm nhan đề cho tập thơ “Việt Bắc” xuất bản năm 1954.
Về kết cấu, bài thơ được xây dựng theo diễn biến tự nhiên của tâm trạng hoài niệm. Từ hiện tại với cuộc chia li kẻ ở – người đi, tác giả hồi tưởng về quá khứ ân tình của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” và cùng nhau hướng tới tương lai tươi sáng của đất nước. Đoạn trích có thể chia làm hai phần: Phần thứ nhất từ đầu đến “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” nói về tâm trạng bùi ngùi, lưu luyến, nỗi niềm của người ở lại. Phần còn lại bày tỏ niềm thương nhớ của người cán bộ cách mạng về xuôi.
1.3. Một vài lưu ý quan trọng khi nghiên cứu về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc:
Khi nghiên cứu tác giả Tố Hữu chúng ta không thể không chú ý vài điều quan trọng. Dòng văn học cách mạng Việt Nam chuyển qua các giai đoạn với các loại tác phẩm và tác giả có sự khác biệt về tư tưởng và cảm hứng. Sự vận động từ thơ văn của phong trào Đông Du, Duy Tân Đông Kinh Nghĩa Thục đến thơ văn của phong trào chống thuế tại Trung Kì (Trung Kì dân biến) đến thơ văn trong tù rồi thơ của các nhà cách mạng vô sản là sự vận động tích cực theo sự phát triển của cách mạng Việt Nam mà Tố Hữu lại nằm ở giai đoạn đích sau cùng. Qua trường hợp Tố Hữu chúng ta thấy giai đoạn nhà thơ sống chính là giai đoạn tư duy thơ đổi khác dưới ngọn bút của các nhà cách mạng: “từ một lối tư duy thơ hướng về các mẫu mực cổ xưa, người ta hướng vào tương lai và thực trạng trước mắt. Từ văn chương ngôn chí, thù tạc tỏ lòng, văn chương tiến than chuyển sang văn chương trình bày hiện thực, tuyên truyền, kêu gọi cách mạng. Từ văn chương nói với trời đất, với kẻ tri kỉ, tri âm vốn hiếm hoi và mang tính cá nhân, xuất hiện văn chương hướng tới đông đảo quần chúng; từ một nền văn chương mang tính chất trí thức quý tộc chuyển sang nền văn học đại chúng bình dân. Từ văn chương chữ Hán là chủ yếu chuyển sang nền văn học tiếng Việt hiện đại. Thi liệu đổi thay, chức năng thể loại cũng khác” [3; 24]. Và do vậy, Tố Hữu hội đủ điều kiện “kết hợp hài hòa tư tưởng cách mạng cao đẹp, sáng rõ nhất của thời đại với hình thức ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại và không ngừng đổi mới, làm phong phú cho nó” [3;27].
CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
2.1. Điểm qua một số công trình nghiên cứu văn học lớn ở Việt Nam vận dụng lí thuyết phong cách học:
Đến nay, ở Việt Nam ta, việc vận dụng lí thuyết phong cách học trong nghiên cứu văn học không còn là mới mẻ nữa. Nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nhà nghiên cứu lớn đã dung lí thuyết Phong cách học trong tiếp cận nghiên cứu tác phẩm văn học và đạt những hiệu quả vô cùng to lớn. Chúng ta có thể kể một số công trình như “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” của Giáo sư Phan Ngọc; loạt công trình liên tiếp của tác giả thời danh Đỗ Lai Thúy như “Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực”, “Bút pháp của ham muốn”, “Phê bình văn học – con vật lưỡng thê ấy”, “Mắt thơ”, rồi gần đây nhất là “Thơ như là mỹ học của các khác”.
Công trình “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” là công trình có thể xem là đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về phong cách học ở Việt Nam, có thể xem đó là công trình có tính khai phá cho một phương pháp nghiên cứu văn học mới được áp dụng vào Việt Nam. Giáo sư Phan Ngọc, qua việc khảo sát Truyện Kiều ở những nội dung lớn như Tư tưởng của Truyện Kiều, Phương pháp tự sự của Nguyễn Du, thủ pháp phân tích tâm lý trong Truyện Kiều, bố cục, câu thơ, ngôn ngữ và ngữ pháp của Truyện Kiều đã cho người đọc thấy được ưu việt lớn của phương pháp Phong cách học trong nghiên cứu văn học. Việc áp dụng phương pháp này đã giúp Giáo sư Phan Ngọc làm rõ cống hiến thiên tài của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.
Loạt công trình của Đỗ Lai Thúy đã khắc sâu thêm ảnh hưởng của phương pháp Phong cách học trong lòng độc giả Việt Nam. Chớ tưởng rằng Đỗ Lai Thúy chỉ áp dụng phương pháp Phân tâm học trong các công trình của mình. Qua việc nhận định có tính định hướng “Phong cách chính là sự lệch chuẩn”, Đỗ Lai Thúy đã đi tìm sự “lệch chuẩn” đáng ngợi ca trong sáng tác của nhiều tác giả.
2.2. Nhận diện khái niệm Phong cách trong nghiên cứu văn học:
Theo Giáo sư Phan Ngọc Phong cách học là “khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy”. Nhiệm vụ của Phong cách học là “khảo sát các kiểu thay thế, nhằm đưa ra những phán đoán về giá trị, trong lúc đó các bộ môn khác của ngôn ngữ học đưa ra những phán đoán về hiện thực … Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả… Trong phong cách có nội dung, nhưng nội dung được xây dựng theo cái hình thức riêng thích hợp với phong cách” [2;27].
Như vậy, theo Phan Ngọc, Phong cách không phải bao giờ cũng trùng khít với thời đại. Một thời đại “chỉ có phong cách của nó khi nghệ thuật của nó đạt đến một trình độ tiêu biểu không lặp lại ở các thời đại khác. Mỗi thời đại chỉ có được phong cách của mình sau khi đã có được một cách khám phá riêng cho nó mà đời trước chưa có”. Phong cách cũng không đồng nhất với thể loại. Bởi “thể loại cũng đạt đến một cách nhìn riêng của nó, lúc đó mới có phong cách”. Hiện tượng phong cách tác giả lại càng hiếm hơn nữa. Một tác giả chỉ có thể có một phong cách riêng khi “đọc một vài câu, người ta đoán biết tác giả là ai, khi phong cách mà tác giả xây dựng góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều người noi theo và học tập” [2;29]. Với cách hiểu phong cách như thế, ta sẽ dễ dàng tìm thấy đặc trung phong cách của Tố Hữu – lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.

CHƯƠNG 3
SỰ THỂ HIỆN ĐẶC TRƯNG PHONG CÁCH CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU TRONG TÁC PHẨM VIỆT BẮC

  1. 1. Những tiếng lòng đồng vọng của kẻ ở – người đi:

Khổ 1: Lời của người ở lại
Trong cảnh chia tay dùng dằng, lưu luyến, bịn rịn giữa người đi và kẻ ở, người ở lại đã mở lời trước với câu hỏi xiết bao ân tình:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Trong khổ thơ này, “mình” là người ra đi, là người cán bộ kháng chiến chia tay Việt Bắc, “ta” là người ở lại, là đồng bào Việt Bắc và cả thiên nhiên núi rừng Việt Bắc sâu nặng ân tình. Để diễn tả tình cảm lưu luyến, bịn rịn giữa người đi và kẻ ở, Tố Hữu đã sử dụng lối xưng hô mình – ta quen thuộc trong ca dao. Đại từ mình – ta cũng chính là hai nửa yêu thương trong ca dao tình yêu đôi lứa:
“Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ”
Lối xưng hô này đã tạo nển sắc thái tình cảm thân mật, đằm thắm như tình yêu đôi lứa giữa người cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc. Như vậy, vấn đề có tính chính trị được Tố Hữu trình bày trong bài thơ không khô khan mà lại rất dễ đi vào lòng người.
Với khổ thơ đầu, chỉ có bốn dòng thơ nhưng lại có tới hai câu hỏi luyến láy trong khắc khoải, dồn dập: “mình về mình có nhớ ta”, “mình về mình có nhớ không?”. Thực ra, hỏi chỉ là cách mà người ở lại bày tỏ nỗi lòng. Hỏi người có nhớ không chính là ngầm bảo ta rất nhớ người. Việt Bắc hỏi người đi nhưng cũng muốn thể hiện lòng mình nhớ người đi da diết. Hỏi “nhớ không” là đã hàm nghĩa lời nhắn gửi, nhắc nhở người về chớ quên.
Trong cảm xúc bùi ngùi đưa tiễn, người ở lại nhắc nhở người ra đi đừng quên “mười lăm năm” đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi; đừng quên Việt Bắc là “quê hương cách mạng”, là cội nguồn, là thủ đô kháng chiến. Những cây, núi, sông, nguồn không chỉ là thiên nhiên mà còn là nguồn cội, như lời ca dao về công sinh thành của cha mẹ mà dân gian từng ca ngợi:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Khổ 2: Tiếng lòng của người ra đi
Đáp lại những câu hỏi của người miền núi la tiếng lòng của người ra đi
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuân trong dạ, bồn chồn bước đi”
Đây không phải là câu trả lời trực tiếp mà chỉ là lời độc thoại nội tâm. Người đi như nói với chính mình để qua đó bộc bạch nỗi lòng lưu luyến. Với việc sử dụng từ phiếm chỉ “tiếng ai” đã làm tứ thơ mờ hóa trong cảm xúc bồi hồi của người đi kẻ ở. “Tiếng ai” trong câu thơ cũng là tiếng người ở lại vang vọng, khơi gợi nỗi nhớ của người đi.
Người cán bộ kháng chiến giã từ Việt Bắc với nỗi nhớ lưu luyến, tiếc nuối, bâng khuâng. Những trạng thái cảm xúc ấy dồn nén lại , làm ngập ngừng bước chân. Tố Hữu đã sử dụng nhiều từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” để diễn tả tâm trạng bịn rịn, lưu luyến lúc chia tay. Ta – mình dường như bịn rịn trong cảm giác “người ơi người ở đừng về” nghe sao xao xuyến, cuộn xoáy tâm hồn.
Hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã sử dụng thành công phép hoán dụ để chỉ hình ảnh con người Việt Bắc:
“Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
Mười lăm năm trước trong đói nghèo, Việt Bắc đã đón nhận và cưu mang người cách mạng. Mười lăm năm sau, những người dân Việt Bắc, vẫn chiếc áo chàm ấy tiễn đưa người cán bộ về xuôi. Nghĩa tình biết nói mấy cho vừa. Dấu chấm lững khép hờ câu thơ đã thể hiện sự dùng dằng, lưu luyến giữa người đi và kẻ ở.
“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” là câu thơ có giá trị biểu cảm lớn. Không nói nhưng đã nói rất nhiều bởi lẽ không biết nói gì không phải là không có gì để nói mà chính bởi cõi lòng tràn ngập vô vàn điều muốn nói nhưng nghẹn ngào không thể nói lên lời.
Khổ 3: Người ở lại gợi nhắc ân tình
Nhớ Việt Bắc là nhớ những tháng ngày gian khổ. Ở khổ thơ thứ 3, người ở lại, trong nỗi lưu luyến bồi hồi, đã gợi lại kỉ niệm trong những năm tháng thiết tha mặn nồng ở chiến khu:
“Mình đi có nhớ những ngày
……………………………………..
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”
Toàn bộ khổ thơ này, Tố Hữu đã sử dụng một loạt câu hỏi vang lên dồn dập: “mình đi có nhớ”, “mình về có nhớ”. Bao nhiêu cặp lục bát là bấy nhiêu câu hỏi. Và cứ sau một câu hỏi lại là một câu giãi bày liên tục, khắc khoải. Một câu hỏi đặt ra lại kèm theo một lời nhắn nhủ, gợi lại kỉ niệm. Việt Bắc nhắn nhủ người đi hãy nhớ về những tháng ngày gian khổ nhưng ấm áp nghĩa tình giữa người cán bộ kháng chiến và nhân dân nơi đây.
Trong lời nhắn gửi của Việt Bắc, có sự gợi nhắc về thiên nhiên luôn gắn bó với con người:
“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”
Nhớ về Việt Bắc, xin đừng quên cảnh thiên nhiên mang nét đặc trưng của rừng núi: thiên nhiên khắc nghiệt mưa nguồn thác lũ, sương mù giăng phủ bản làng, mây che mờ mịt nhưng thân thuộc và gắn bó biết bao bởi vì thiên nhiên ấy đã từng chở che con người.
Nhớ về Việt Bắc, xin đừng quên những tháng ngày gian khổ, trường kì kháng chiến với biết bao tình nghĩa đã có với nhau:
“Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”
Hình ảnh “miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” như làm ta liên tưởng đến âm hưởng trầm hùng của những trái tim “biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ đi trả thù mà không sợ dài lâu”. Yêu quí biết bao nhiêu một Việt Bắc nghèo khó nhưng luôn dung chứa trong mình những tình cảm lớn với tổ quốc, nhân dân.
Trong nỗi nhớ thương dâng đầy, người ở lại tiếp tục bật lên lời nhắn nhủ:
“Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bụi để rụng, măng mai để già”
“Rừng núi nhớ ai” hay người ở lại nhớ người đi khôn xiết? Trong câu nói lấp lửng của Việt Bắc như có chút dỗi hờn, trách móc nhẹ nhàng mà đầy yêu thương. Người đi rồi, trám rụng, măng già, cỏ cây buồn khô héo.
Người ở lại vẫn tiếp tục gợi nhớ: mình đi đừng quên bản làng, đất đai, cỏ cây, đừng quên nghĩa tình “mười lăm năm ấy”:
“Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”
Bởi bản làng, núi non là nơi chứng kiến biết bao ân tình, nơi nuôi dấu và vun đắp những “tấm lòng son”, nơi chứng kiến sự sinh thành và lớn lên của cách mạng từ buổi đầu Việt Minh, những ngày kháng Nhật.
Đai từ “mình” xuất hiện nhiều lần trong khổ thơ thứ ba, nhưng đến hai câu cuối của khổ thơ, Tố Hữu đã sử dụng cách xưng hô đầy sáng tạo:
“Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”
Tố Hữu đã có sự sáng tạo trong việc sử dụng hai từ “mình – ta” quen thuộc: “Mình đi, mình có nhớ mình”. Từ mình thứ nhất và thứ hai được dùng theo ngôi thứ hai. Nhưng từ “mình” thứ ba lại làm tứ thơ trở nên đa nghĩa. Có thể hiểu là người ở lại nhắn gửi người đi đừng quên núi rừng, thiên nhiên, con người Việt Bắc. Cũng có thể hiểu cả ba chữ “mình” đều được dùng theo ngôi thứ hai. Đó là lời nhắn gửi vơi hàm nghĩa: “anh đi anh có nhớ anh không?”. Anh còn phải nhớ em và nhớ cả anh nữa chứ. Ca dao chỉ đòi hỏi nhớ em thôi. Vậy mà Tố Hữu đã thêm hương sắc cho chữ tình. Liệu mình có thay lòng đổi dạ với ta không? Mình có thay lòng đổi dạ với mình không? Đến đây ta thấy không còn là lời đối thoại, cũng không còn là câu hỏi của Việt Bắc nữa mà câu thơ đã trở thành lời độc thoại nội tâm của chính nhà thơ. Thì ra Việt Bắc là một bài thơ “lòng dặn lòng”; Tố Hữu đã phân thành hai nhân vật chuyện trò tâm tình và cũng như để nhắc chính mình.
Bằng lời thơ lục bát giản dị mà sâu sắc; sử dụng ngôn ngữ dân giã mà hàm súc, đa nghĩa; dùng cặp từ “mình – ta” trong đối đáp của ca dao, Tố Hữu đã chuyển tải nỗi nhớ da diết của nhân dân Việt Bắc với người cám bộ cách mạng về xuôi trong buổi chia tay đầy lưu luyến và sâu nặng nghĩa tình. Đẹp biết bao nhiêu, sâu lắng biết bao nhiêu khi những tình cảm của nhân dân Việt Bắc với người cán bộ về xuôi đã được hóa thành bất tử trong những lời thơ mặn nồng tha thiết của Tố Hữu. Chủ đề chính trị trong thơ của thi nhân hòa điệu cùng chất giọng tâm tình với âm hưởng ngọt ngào dân ca đã làm nên những lời thơ bất tử. Lời của người ở lại cũng là lời nhắn gửi với người đọc hôm nay về những ngày tháng thiêng liêng của lịch sử và tấm lòng cao đẹp của những thế hệ đi trước mà thế hệ tiếp nối lịch sử hôm nay không thể nào được lãng quên.
Và, nói về tính chất trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu là nói đến một đặc trưng lớn về phong cách thơ ông, như nhận định của giáo sư Trần Đình Sử: “Thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu dựa trên tiền đề thống nhất hoàn toàn, lắm khi là đồng nhất chủ thể trữ tình cá nhân và chủ thể của hoạt động chính trị là giai cấp, Đảng, Nhân dân, Tổ quốc. Sự thống nhất cao độ ấy tự nó đã thủ tiêu lí do phân biệt tuyên truyền và trữ tình, làm gần lại phút bùng cháy của tâm hồn trữ tình với thời điểm bùng nổ của sự kiện chính trị. Tố Hữu đã kết hợp một tình cảm yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội thuần túy nhất với một tình cảm cá nhân đằm thắm trong sáng nhất. Nhờ thế, ông đã sáng tạo được một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo của thơ trữ tình chính trị và nâng nó lên một trình độ mới. Với rất nhiều tác phẩm khác, ta thấy sự hòa hợp kì diệu này giữa chính trị và trữ tình:
“Cửa ngục đổ. Cả Pari rầm rộ
Kéo nhau về tràn ngập điện Hoàng gia
Muôn cánh tay xây dựng Cộng hòa
Xô xuống đất chiếc ngai vàng mục nát”.
(14 tháng 7)
3.2. Tiếng lòng người cán bộ về xuôi:
Khổ 4,5,6
Người ra đi đáp lại người ở lại bằng một cách xưng hô tha thiết, thân mật như lời ca dao tình yêu đôi lứa:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”
“Mình – ta” được kết hợp với hai từ láy liên tiếp “mặn mà”, “đinh ninh” cùng với biện pháp tu từ so sánh: “nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”. Tố Hữu đã mượn phép so sánh quen thuộc trong ca dao với cặp từ “bao nhiêu – bấy nhiêu” để chuyển tải nghĩa tình sâu nặng giữa người cán bộ về xuôi và nhân dân Việt Bắc. Ngày xưa, cũng bằng cặp từ ấy, những đôi lứa yêu nhau đã so sánh tình yêu của mình:
“Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói dạ thương mình bấy nhiêu”
Ngói ở đình dù nhiều bao nhiêu vẫn có thể đếm được. Nhưng nước trong nguồn thì dường như vô tận, không có thể đo đếm được. Việc sử dụng từ “mình – ta”, “mặn mà”, “đinh ninh” cùng với nghệ thuật so sánh, người miền xuôi đã thể hiện tấm lòng thủy chung son sắc của mình với nhân dân Việt Bắc, nghĩa tình của người đi với người ở lại tràn đầy như nước trong nguồn vậy.
Nghĩa tình của người miền xuôi đối với người dân Việt Bắc được Tố Hữu cụ thể hóa qua nỗi nhớ. Cảnh và người Việt Bắc đã để thương để nhớ cho nhà thơ nhiều quá! Ở đây, nỗi nhớ lúc lắng sâu, lúc cồn cào như nỗi tương tri của tình yêu đôi lứa:
“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.”
Nỗi nhớ của người cán bộ miền xuôi đối với nhân dân Việt Bắc được so sánh với nỗi nhớ người yêu. Mà nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ bổi hổi bồi hồi như ca dao từng thể hiện:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”
Đó là nỗi nhớ da diết, bồn chồn, không yên. Ở đây, người ra đi như canh cánh bên lòng những hình ảnh thân thương của bản làng, thôn xóm. Cảnh thiên nhiên hiện lên qua nỗi nhớ của nhà thơ vừa mộng vừa thực, vừa mờ sương khói. Nhớ lúc trăng lên, nhớ khi chiều xuống, nhớ sáng sớm, nhớ đêm khuya. Những hình ảnh nghệ thuật “trăng”, “nắng chiều”, “bản khói cùng sương”, “bếp lửa”, “rừng nứa”, “bờ tre”, “ngòi Thia”, “sông Đáy”, “suối Lê” hòa quyện vào nhau tạo thành bức tranh Việt Bắc lung linh, bừng sáng, thơ mộng và ấm áp tình người. Nỗi nhớ Việt Bắc, như vậy, đã bao trùm cả không gian và thời gian.
Thiên nhiên và con người Việt Bắc hòa quyện, gắn bó với nhau trong nỗi nhớ của nhà thơ. Vì vậy, từ nỗi nhớ thiên nhiên, bóng dáng con người của những ngày chia sẻ ngọt bùi, đắng cay hiện ra:
“Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ săn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.”
Những câu thơ của Tố Hữu nhắc ta nhớ đến lời ca dao chở nặng ân tình của những con người bình dị mà chân chất:
“Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau.”
Đói khổ, nghèo túng là những ngày tháng khó quên nhất trong cuộc đời mỗi con người. Người cán bộ kháng chiến đã từng sống những ngày tháng gian khổ, nghèo khó nhưng được sự đùm bọc, cưu mang, che chở của những người dân Việt Bắc. Người cán bộ và nhân dân đã từng “chia củ sắn lùi”, sẻ nửa bát cơm, đắp chung chăn mỏng suốt mười lăm năm trời. Nghĩa tình ấy làm sao quên được. Nhắc lại những kỉ niệm này là cách mà người ra đi bày tỏ tấm lòng thủy chung, son sắc của mình. Giã từ Việt Bắc về xuôi, người cán bộ không bao giờ quên được những ngày tháng chia ngọt sẻ bùi, đắng cay cùng chịu với Việt Bắc sâu nặng ân tình.
Trong nỗi nhớ của người đi, hiện lên hình ảnh người mẹ Việt Bắc giàu ân tình:
“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”
Viết về mẹ, người nào cũng viết thật chân thành và xúc động. Tố Hữu cũng vậy. Người đọc từng bắt gặp hình ảnh người mẹ trong thơ Bùi Minh Quốc với tiếng cuốc vọng về như đánh thức hồn thiêng sông núi:
“Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác
Bao đêm rồi, tiếng cuốc vọng năm canh”
Hay hình ảnh người mẹ Tây Bắc giàu tình thương yêu và sự chở che trong “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:
“Con nhớ mế lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế chẳng phải hòn máu cắt
Nhưng suốt đời con nhớ mãi ơn nuôi”
Hay hình ảnh người mẹ trong “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm:
“Mẹ giã gạo, mẹ nuôi bộ đội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng”
Người mẹ trong thơ Bùi Minh Quốc, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm là những người mẹ một lòng một dạ phục vụ sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp cứu nước. Còn người mẹ Việt Bắc hiện lên trong thơ Tố Hữu với nỗi vất vả nhọc nhằn. Đó chính là người mẹ của nhân dân, người mẹ của dân tộc, những người mẹ khó nhọc trong cuộc sống nhưng sâu nặng nghĩa tình và giàu lòng yêu thương. Với hai từ “cháy lưng” ta như nghe được tiếng thổn thức bật lên từ đáy lòng xót thương vô hạn của nhà thơ.
Trong nỗi nhớ của nhà thơ về Việt Bắc, có cả cuộc sống cách mạng nơi thủ đô kháng chiến ngày nào. Đó là nỗi nhớ “lớp học i tờ”, những “đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan”, nhớ những “ngày tháng cơ quan” gian nan nhưng vẫn hát vang tiếng ca giữa núi đèo trùng điệp.
Nhớ Việt Bắc là nhớ những âm thanh quen thuộc gắn liền với cuộc sống bình dị của con người:
“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”
Tiếng mõ trâu chiều chiều về bản, tiếng chày đêm giã gạo là biểu tượng văn hóa của người Việt Bắc. Làm sao người đi có thể quên được khi những âm thanh đó đã thành một phần linh hồn người đi sau mười lăm năm đồng cam cộng khổ?
Bức tranh tứ bình:
Có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là sự hòa quyện thắm thiết giữ cảnh và người:
“Ta về mình có nhớ ta
………………………………………
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”
Qua nỗi nhớ của nhà thơ, thiên nhiên và con người hiện lên với những vẻ đẹp riêng: “Ta về mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.” Hai từ “mình – ta” được sử dụng để làm cho cuộc chia tay giữa người miền xuôi và người miền ngược mang âm hưởng của một cuộc giã bạn lứa đôi. Nếu ở những khổ thơ trên, Việt Bắc hỏi người đi, thì ở đây, người đi hỏi người ở lại. Câu trên là câu hỏi, câu dưới là câu giãi bày lòng mình. Hoa là biểu tượng của cái đẹp, biểu tượng cho những gì tinh túy nhất của đất trời. Người về lại nhớ đến hoa nghĩa là nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc. Mà cái đẹp của Việt Bắc trong cảm nhận của Tố Hữu luôn gắn liền với con người. Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên qua ngòi bút nhà thơ là vẻ đẹp của sự tương giao, gắn bó giữa thiên nhiên và con người.
* Bức tranh thiên nhiên:
Dưới ngòi bút tinh tế của nhà thơ, bốn mùa xuân – hạ – thu – đông trở thành bức họa tứ bình với nghệ thuật chấm phá tạo hình độc đáo.
Mùa đông, bản làng Việt Bắc mướt xanh, đâu đó điểm xuyết sắc màu đỏ tươi của bông chuối rừng. Màu đỏ chói lên giữa sắc xanh bạt ngàn rừng núi gợi sức ấm nóng, làm át đi cái mù sương lạnh giá của mùa đông. Trong câu thơ này, đã có hai bức tranh lồng vào nhau sắc nét: bức tranh toàn cảnh màu xanh của núi rừng và bức tranh đặc tả bông hoa chuối.
Nếu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, mùa xuân được điểm xuyết với vài bông hoa lê trắng giữa cỏ non xanh chạy tới chân trời:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Thì trong bức tranh mùa xuân núi đồi Việt Bắc trong thơ Tố Hữu lại trắng ngợp một màu tinh khiết của hoa mơ: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”. Thiên nhiên Việt Bắc như một cô gái thanh xuân khoát lên mình chiếc áo voan trong trắng mà lộng lẫy. Hai chữ “trắng rừng” được nhà thơ sử dụng thật linh hoạt làm bừng sáng cả câu thơ và bừng sáng cả núi rừng Việt Bắc. Sau này, rong trường ca “Theo chân Bác”, một lần nữa, nhà thơ lại nói đến hoa mơ, bởi màu trắng của hoa mơ cũng chính là đặc trưng của núi rừng Việt Bắc: “trắng rừng biên giới nở hoa mơ”.
Mùa hè lại được đánh dấu bằng tiếng ve râm ran và sắc rực vàng của hoa phách: “Ve kêu rừng phách đổ vàng”. Dường như đâu đó những nụ hoa cuối xuân còn chúm chím, chỉ chờ tiếng ve ngân lên là báo hiệu hè sang là cả khu rừng nhất loạt bừng lên sắc vàng rực rỡ của hoa phách. “Đổ” là cách dùng từ tinh tế, diễn tả được chuyển biến đột ngột của cả núi rừng. Người đọc như cảm nhận được những trận mưa hoa vàng khi gió thổi, ve kêu gọi hè. Có vẻ như trong thơ Tố Hữu, sắc vàng là một hình tượng nghệ thuật tượng trưng cho sức sống, niềm tin và khát vọng về ngày mai tươi sáng. Chính bởi màu vàng của hoa phách mà bức tranh thiên nhiên Việt Bắc trở nên ấm nóng đầy sức sống.
Như vậy là gam màu thiên nhiên đã thay đổi: màu đỏ của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ sang sắc vàng của rừng phách.
Bộ tranh tứ bình kết thúc bằng bức tranh thu. Mùa thu, thiên nhiên đất trời Việt Bắc dịu dàng trong ánh trăng mơ, một màu trăng mênh mang phủ trên rừng núi. Ánh trăng mát lành biểu trưng cho bình yên, no ấm và khát vọng hòa bình của con người Việt Bắc.
* Hình ảnh con người:
Bên cạnh nỗi nhớ thiên nhiên là nỗi nhớ con người Việt Bắc. Con người luôn được dan cài, xen kẽ, hòa hợp cùng thiên nhiên. Sau mỗi câu lục phác họa nên bức tranh thiên nhiên là những câu bát nói đến con người. Con người gắn bó khăn khít với thiên nhiên làm cho thiên nhiên có hồn, bát ngát hương hoa, hương đời.
Con người hiện lên bình dị, dáng yêu và toát lên vẻ đẹp từ lao động. Bức tranh mùa đông nổi bật là hình ảnh đặc tả người đi rừng với “dao gài thắt lưng”; mùa xuân lại gắn với bàn tay dịu dàng, cần mẫn của các cô gái “chuốt từng sợi giang”. Những hình ảnh đặc tả này giống như cảnh quay chậm của điện ảnh, nó không chỉ giúp người đọc thấy được đường nét mà còn thấy được sự tỉ mỉ, hết lòng trong công việc. Hình ảnh “cô em gái hái măng một mình” vừa gợi sự cần cù chăm chỉ, vừa gợi không gia bao la, mênh mông thanh bình của núi rừng Việt Bắc.
Nhớ Việt Bắc, người về còn nhớ cả “tiếng hát ân tình thủy chung”. Đó là tâm hồn, là tình cảm của những người miệt mài, chăm chỉ với công việc, lặng lẽ cưu mang chia sẻ với cách mạng, với kháng chiến, lại mang trong mình những rung động, cảm xúc trước đất trời, trước cuộc đời.
Trong bức tranh tứ bình này, hoa và người đều đẹp lung linh, rạng ngời, gắn bó mật thiết với nhau. Hoa đứng cạnh người, người đứng cạnh hoa. Bức tranh bốn mùa này đã in rõ dấu ấn của tâm hồn người. Đó là cái nhìn chan chứa tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người của nhà thơ.
Thành tựu cơ bản nhất của Tố Hữu trong quan niệm nghệ thuật về con người ở Việt Bắc là đã xây dựng thành công hình tượng con người bình thường. Nhưng đặc sắc hơn nữa đó chưa phải là kiểu con người thế sự kiểu các nhà văn thời hậu chiến. Con người bình thường trong thơ Tố Hữu là những “con người chính trị” trong “cuộc chiến đấu chung”. Đó cũng là những con người đã được thử thách qua khói lửa đạn bom nên không hề băn khoăn mà là một bộ phận của đông đảo nhân dân cần lao đang hết mình vì cuộc chiến với bản lĩnh phi thường:
“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo…”
(Lên Tây Bắc)

3.3. Không gian kháng chiến Việt Bắc và lời ca ngợi Đảng, Bác Hồ
Trong nỗi nhớ của người ra đi, có cả cuộc sống và kháng chiến trường kì của dân tộc với không khí sử thi hùng tráng:
“Những đường Việt Bắc của ta
…………………………………………
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
Nhũng từ láy “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng” đã gợi lên âm hưởng trầm hùng của không khí cả nước cùng ra trận. Trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù, nhân tố làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam là sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Với khổ thơ này, Tố Hữu đã ngợi ca sức mạnh đó với âm hưởng sử thi hùng tráng. Khổ thơ đã tái hiện lại một thời oanh liệt và ngời sáng ý chí, lí tưởng và niềm tin của dân tộc. Với hình ảnh giàu sức biểu cảm “bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”, Tố Hữu đã làm nổi bật lên ý chí và sức mạnh không gì lay chuyển nổi của những đoàn quân ra trận trùng trùng điệp điệp với âm hưởng hào hùng.
Với hai câu thơ:
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
Tố Hữu đã hết sức tài tình trong việc sử dụng phép ẩn dụ để khái quát lên lịch sử đấu tranh của dân tộc ta trong thời kì chống Pháp gian khổ. “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” là câu thơ có sức biểu cảm lớn, nói lên những gian khó, tối tăm của dân tộc ta trong những đêm dài nô lệ. Nhưng, được sự soi đường của ánh sáng cách mạng, ánh sáng lí tưởng của Đảng: “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”, dân tộc ta đã vươn lên hướng về tương lai tươi sáng của mình. Và, tin vui chiến thắng đã đến với trăm miền khi tổ quốc này được soi sáng bởi ánh sáng vĩnh hằng của Đảng và cách mạng. Với phép liệt kê đầy hào sảng, nhà thơ đã gợi lên không khí vui vẻ phấn khởi khắp trăm miền trong dạt dào cảm xúc:
“Tin vui thắng trận trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê,
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Niềm vui tiếp nối niềm vui, người ra đi trong cảm xúc dâng trào đã hồi tưởng lại công cuộc kháng chiến sục sôi một thời tại “quê hương cách mạng” ngày nào:
“Ai về ai có nhớ không?
……………………………………
Gửi dao miền ngược thêm trường các khu…”
Có thể nói rằng, trong thơ Tố Hữu, hình tượng trung tâm chính là Bác Hồ. Người là hiện thân của ý chí, sức mạnh, niềm tin của cả dân tộc. Vì vậy, những dòng thơ Tố Hữu viết về vị cha già kính yêu luôn đầy cảm xúc, sự kính trọng và ngập tràn tình yêu thương. Đồng thời, giá trị nghệ thuật thơ Tố Hữu cũng kết tinh trong những lời thơ viết về Bác.
Bác Hồ chính là ánh sáng soi đường cho cả dân tộc, xua tan bóng tối u ám của kẻ thù:
“Ở đâu u ám quân thù,
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi”
Bác Hồ là linh hồn của Đảng, là trái tim của thủ đô kháng chiến. Chính vì vậy, Việt Bắc là nơi nhân dân cả nước hướng về để nuôi dưỡng niềm tin, ý chí đem lại hòa bình, độc lập cho dân tộc:
“Ở đâu đau đớn giống nòi,
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Mười lăm năm ấy, ai quên
Quê hương Cách mạng dựng nên cộng hoà”
Lời thơ cũng là tiếng lòng của Tố Hữu với nhân dân và núi rừng Việt Bắc, với thủ đô kháng chiến một thời và với quá khứ vàng son của dân tộc, với Bác Hồ – vị cha già kính yêu của dân tộc. Nhưng điều kì diệu là con người phi thường Hồ Chí Minh qua ngòi bút của Tố Hữu lại hết sức bình dị và gần gũi.
Bởi kiểu quan niệm con người bình thường được phân tích trong phần trên nên cảm hứng chủ đạo khi Tố Hữu xây dựng hình tượng lãnh tụ cũng gắn liền với các chi tiết rất dỗi bình thường:
“Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo”
(Việt Bắc)
Nhưng trong trường nhìn gắn với sự bình dị ấy, nhà thơ đã khám phá ra rất nhiều thực tiễn sinh động gắn liền với vẻ đẹp của giai cấp cần lao, hiện thân cho vẻ đẹp của con người, khung cảnh đồng quê và “sự thanh thản của đời thường”. Làm được điều đó có lẽ trong văn học cách mạng Việt Nam không có nhiều người như Tố Hữu.

PHẦN III: KẾT LUẬN
Như vậy, chúng tôi, trong sáng kiến của mình đã thực hiện được một số vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, đã trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu và đã nhấn mạnh đâu là điểm cần lưu ý khi tiếp cận tác giả Tố Hữu trong hệ thống văn học cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, đã trình bày cách hiểu của mình về phong cách và Phong cách học trong nghiên cứu văn học trên những nét đại thể, có tác dụng định hướng cho hoạt động nghiên cứu của mình đối với bài Việt Bắc.
Thứ ba, đã chỉ ra những đặc trưng phong cách của Tố Hữu qua tác phẩm Việt Bắc. Riêng ở phần này, vì mục đích lớn nhất của người viết chuyên đề là tạo ra một tài liệu học tập hữu ích cho học sinh khi học bài Việt Bắc nên người viết không nặng về kiến thức kí luận mà chủ yếu phân tích, bình giảng để kết hợp chỉ ra đặc trưng phong cách. Đây là cách làm mà theo chúng tôi sẽ dễ dàng hơn cho học sinh khi đọc chuyên đề này. Bởi nhiều năm dạy khối 12, chúng tôi thấy có một yêu cầu rất lớn từ phía học sinh đối với việc phân tích từng khổ thơ bài thơ này để học sinh ôn thi. Đó là động lực để chuyên đề này ra đời.
Chuyên đề không chủ đích trình bày nhiều kiến thức lí luận, cũng không chủ đích phân tích, bình giảng những khổ thơ theo kiểu “đập vỡ nồi đất hỏi đến đáy” mà chỉ là những gợi ý đơn giản nhất và kết thành hệ thống. Bởi vì khi học sinh đã nắm vững những luận điểm cơ bản, biết kết thành hệ thống thì sẽ chủ động và thăng hoa trong bài làm văn của mình, để hoạt động cảm thụ và phân tích tác phẩm thực sự là hoạt động “đồng sáng tạo” của những bạn đọc thông minh.
Cuối cùng, do khả năng còn hạn chế nên người viết khó lòng tránh khỏi các sai sót, nên người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô và quý bạn đọc để sáng kiến được hoàn thiện hơn.
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Tố Hữu (1963), Từ ấy và Việt Bắc, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  2. Phan Ngọc (2010), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, NXB Văn học, Hà Nội.
  3. Trần Đình Sử (1995), Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, Hà Nội.

Xem thêm : Sáng kiến kinh nghiệm môn văn

Bài viết gợi ý: