Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi văn

MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng Einstein từng nói: “Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi”, đó không chỉ là câu chuyện của khoa học tự nhiên mà còn là câu chuyện của khoa học nhân văn. Ở mặt kia của vấn đề, chính ông cũng từng nói: “Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ.”
Mọi khoa học đều tồn tại quy trình hai mặt đó: Đặt câu hỏi – Trả lời câu hỏi. Nếu chúng ta coi vấn đề nghị luận là một câu hỏi lớn thì mỗi bài văn nghị luận của học sinh giỏi văn được coi là một câu trả lời. Để có được một câu trả lời “đủ rõ” (theo cách nói của Einstein), sự rèn luyện của học sinh dưới tác động của giáo viên rất quan trọng, trong đó có rèn các kĩ năng.
Đề tài “Rèn kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi văn” dù chỉ đặt ra vấn đề rèn luyện một kĩ năng trong hệ thống các kĩ năng được sử dụng trong bài văn nghị luận, nhưng lại có tầm quan trọng đặc biệt bởi mấy lí do sau đây.
Thứ nhất, đây là đề tài có tính thực hành cao, là một nội dung đã được các thầy cô ôn luyện đội tuyển chú trọng đầu tư vì tầm quan trọng có tính quyết định của nó. Do đó, đây chính là cơ hội để người viết chia sẻ tâm huyết của mình với đồng nghiệp, là cơ hội để nâng những công việc có tính chất “bếp núc” hằng ngày lên tầm của lý thuyết làm văn.
Thứ hai, đề tài có yêu cầu cao về tính thực hành nên sẽ tránh được tính hàn lâm về lý thuyết. Nếu lý thuyết được đưa ra thì phải là lý thuyết phục vụ cho thực hành, là lý thuyết được khái quát và nâng lên từ chính quá trình dạy học, từ thực tế rèn luyện học sinh giỏi mà người viết đã trải qua.
Thứ ba, đề tài yêu cầu nghiên cứu về kĩ năng giải thích, như vậy cần phải hiểu như thế nào về kĩ năng này? Về vai trò của kĩ năng này trong một bài văn nghị luận của học sinh giỏi? Hiểu thế nào để tư duy không bị đóng khung, không bị rơi vào sự “ngăn nắp” (Einstein) để học sinh phát huy được trí tưởng tượng và sự sáng tạo? Đó là yêu cầu mà đề tài cần giải quyết.
PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
Đối tượng nghiên cứu:
– Đối tượng nghiên cứu trực tiếp: Học sinh giỏi Ngữ văn các đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia người viết đã trực tiếp giảng dạy từ năm 2010 đến năm 2016.
– Đối tượng học thuật: Kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi văn.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cách rèn kĩ năng giải thích trong mối liên hệ mật thiết với các phương thức, thao thác nghị luận, với kết cấu và điểm nhìn trong bài văn nghị luận, ở hai cấp độ đoạn văn và toàn văn bản.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu kết quả, dạy thực nghiệm, đối chứng, khảo sát,…
III. Đối tượng áp dụng:
– Đội tuyển học sinh giỏi quốc gia Ngữ văn năm học 2016- 2017
– Đội tuyển Ngữ văn cấp trường, cấp tỉnh khối 10 năm học 2016- 2017
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
CÁCH RÈN KĨ NĂNG GIẢI THÍCH TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH GIỎI VĂN THEO TRUYỀN THỐNG
Cách rèn kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận theo truyền thống bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Người viết khái quát thành ba điểm lớn dưới đây.
Thứ nhất, coi giải thích như là một kĩ năng
Nhìn lại thao tác giải thích ở góc độ của tư duy, nếu gọi nội dung cần được giải thích là A, để làm rõ A, câu hỏi thường xuất hiện trong tư duy sẽ là: A là gì? Sau A sẽ là những mô tả, diễn giải chi tiết về bản chất, biểu hiện… của đối tượng. Chẳng hạn, dũng cảm là…, ý chí là…, tình yêu thương là…, thơ hay là…, phong cách nghệ thuật là…, chất thơ là…,… Đây là kiểu tư duy theo nếp. Nếu tất cả các học sinh đều viết theo cách nghĩ đó, chúng ta sẽ có những bài văn có tư duy giống nhau.
Nhìn giải thích ở góc độ của kĩ năng, giải thích dễ nghiêng về sự thuần thục, bài bản. Bởi kĩ năng được hiểu là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
Tư duy theo nếp cộng với quan niệm kĩ năng chỉ là khả năng thực hành một cách thuần thục những thao tác nhất định dẫn đến hệ quả tất yếu: bài văn được viết ra một cách máy móc. Học sinh viết máy móc, và người chấm cũng máy móc. Tất cả chỉ dừng ở kinh nghiệm, học trò sẽ chậm xử lý hoặc lúng túng trước những vấn đề mới, giáo viên rập khuôn trong đánh giá. Như thế, những bài văn vượt ra khỏi tầm kinh nghiệm của người chấm sẽ bị… đánh rơi.
Thứ hai, giới hạn giải thích ở phạm vi đoạn
Giải thích (theo Từ điển tiếng Việt) được hiểu là: Làm cho hiểu rõ.
Giải thích (Theo Bảo Quyến) được hiểu như một thao tác: “Giải thích là thao tác làm cho người khác hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu đầy đủ một vấn đề bằng lí lẽ (có dẫn chứng hỗ trợ)”. Giải thích là một thao tác được dùng để tổ chức nội dung bài văn nghị luận, cùng với giải thích còn có các thao tác: phân tích, tổng hợp, chứng minh, bình luận, quy nạp, diễn dịch, so sánh.
Như thế suy ra, bài văn nghị luận có bao nhiêu nội dung thì thao tác giải thích có thể được sử dụng để làm rõ bấy nhiêu nội dung. Thao tác giải thích phục vụ cho các nội dung giải thích. Giải thích có thể được dùng để làm rõ cho một từ ngữ, một luận cứ, một luận điểm, thậm chí cả luận đề. Vậy, giải thích không phải là quyền năng của một đoạn nào trong bài văn nghị luận. Quan điểm coi bài văn có “đoạn giải thích”, “đoạn chứng minh”, “đoạn bình luận” cần phải được xem xét lại.
Thứ ba, chưa chú trọng phát hiện các tầng của giải thích
Đứng trước một luận đề, một nội dung cần giải thích, việc giải thích từ những đơn vị nhỏ nhất như: từ, ngữ và cả nhận định, câu nói là cần thiết (nếu có). Nhưng như thế mới chỉ dừng ở bề ngoài của vấn đề, là tư duy bên ngoài. Bài văn sở dĩ hay vì người viết ngoài nhận thức được những việc cơ bản cần làm còn ý thức được những việc quan trọng nên làm. Việc quan trọng nên làm đó tạo thành cấp độ thứ hai, là tư duy ở bề sâu: giải thích cơ sở của luận đề và nghĩa lý của vấn đề.
Vì vậy, người giáo viên cần luôn giúp học sinh của mình hướng đến cách nghĩ sâu, phát hiện ra những tầng sau, bề sâu, bề xa của vấn đề để vấn đề nghị luận được nhìn nhận toàn diện, triệt để. Khắc phục tư duy máy móc và hời hợt trong giải thích, đó cũng là một điểm quan trọng trong hoạt động dạy làm văn.
RÈN KĨ NĂNG GIẢI THÍCH TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH GIỎI VĂN THEO QUAN ĐIỂM CỦA ĐỀ TÀI
Giới thiệu chung về đề tài
1.1. Mục đích của đề tài
Mọi bồi dưỡng đối với học sinh giỏi văn xét đến cùng là nhằm phát triển năng lực, trong đó có năng lực tạo sinh văn bản mới. Trong tạo sinh văn bản (viết văn), rèn kĩ năng là rất quan trọng nhưng rèn kĩ năng không thể tách rời với phát triển năng lực, do đó người viết chuyên đề tập trung giải quyết hai nội dung cơ bản trong đề tài này.
Một là nghiên cứu lý thuyết. Ở phần này, người viết trình bày những vấn đề lý thuyết khái quát nhất về văn nghị luận và kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận. Từ quan niệm của người viết về một bài văn nghị luận hay, người viết phân tích bản chất của kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận trong mối liên hệ với năng lực. Dựa vào đó phân định các cấp độ của giải thích có thể xuất hiện trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi.
Hai là trình bày các định hướng cụ thể để phát triển kĩ năng – năng lực giải thích trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi văn. Dựa vào lý thuyết ở trên, người viết đề xuất bốn định hướng cơ bản có liên quan mật thiết với đặc trưng của văn nghị luận, và đặc biệt có liên quan đến các phẩm chất của học sinh giỏi văn. Đó là: (1) Phát huy vai trò của các phương thức, thao tác nghị luận để giải thích. (2) Sử dụng liên tưởng, tưởng tượng để giải thích. (3) Tạo kết cấu và điểm nhìn cho giải thích. (4) Giải thích bằng điểm nhìn văn hóa và trải nghiệm.
Các định hướng đó được trình bày trên tinh thần kế thừa và phát triển nghiên cứu của người viết về các dạng năng lực liên tưởng, tưởng tượng, năng lực văn hóa, năng lực trải nghiệm… đã chia sẻ trên các website của trường, của ngành, trang Văn học nghệ thuật tỉnh, báo Giáo dục thời đại online, Trang Văn học nhà trường của Đài tiếng nói Việt Nam…
Ở mỗi định hướng, người viết phân tích dựa vào những minh họa cụ thể, chủ yếu là sản phẩm viết của các em học sinh trường THPT chuyên Lê Quý Đôn và một số ngữ liệu trích trong sách tham khảo, tài liệu nghiên cứu. Bốn định hướng rèn luyện trên vừa chỉ ra bản chất của kĩ năng vừa nói lên bản chất của năng lực, hai điều này đều có thể rèn luyện được, dựa vào tác động của người dạy đến quá trình phát triển cá tính của học sinh.
1.2. Bối cảnh, động lực ra đời đề tài
– Đề tài được thực hiện trong bối cảnh của đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
– Đề tài cũng được thực hiện dựa trên yêu cầu nghiên cứu khoa học được đặt ra đối với giáo viên trong sân chơi của các trường chuyên khu vực Duyên hải và đồng bằng Bắc Bộ (hoạt động thường niên của trường THPT chuyên Lê Quý Đôn).
1.3. Mục tiêu của đề tài
– Nâng cao chất lượng dạy học đội tuyển học sinh giỏi các cấp môn Ngữ văn của trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.
– Góp phần định hướng, trao đổi về chuyên môn sâu với đồng nghiệp Ngữ văn ở phạm vi trường, ngành…
1.4. Giá trị của đề tài
– Đề tài xây dựng lại hệ thống lý thuyết làm văn (về kĩ năng giải thích) theo quan điểm tiếp cận mới: tiếp cận năng lực. Đây cũng là cơ sở để người viết được trao đổi với đồng nghiệp về ý tưởng của mình.
– Đồng thời đề tài cũng cụ thể hóa các giải pháp nhằm giúp các thầy cô ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi có nguồn tham khảo thêm cho quá trình dạy đội tuyển.
Mô tả chi tiết hệ thống giải pháp rèn kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi văn
2.1. Nhận thức về kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi văn
2.1.1. Giải thích trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi văn, không chỉ là chuyện của kĩ năng mà là chuyện của năng lực
Tư duy theo nếp cộng với quan niệm kĩ năng chỉ là khả năng thực hành một cách thuần thục những thao tác nhất định dẫn đến hệ quả tất yếu: bài văn được viết ra một cách máy móc. Học sinh viết máy móc, và người chấm cũng máy móc.
Đối với những bài văn nghị luận viết vượt lên trên tầm của kiến thức và kĩ năng, chúng ta nên đánh giá những bài văn đó ở tầm của năng lực. Một học sinh có năng lực viết là một học sinh làm chủ được kiến thức, chiến thắng được sự cũ mòn của kĩ năng để có thể làm mới mỗi bài văn trong tay mình. Năng lực cũng không phải là điều gì quá cao siêu mà thực chất năng lực có được cũng thông qua quá trình rèn luyện bền bỉ, lâu dài, ở đó có vai trò, sự tác động của giáo viên, có sự độc lập trong tư duy của học trò.
2.1.2. Các cấp độ của giải thích trong bài văn nghị luận
Trong bài văn nghị luận, giải thích ở mức độ nào (rộng, hẹp, nông, sâu) là do sự chi phối của yếu tố đề văn, kiến thức, kĩ năng và năng lực giải thích của học trò. Người viết chia thành các kiểu giải thích dưới đây căn cứ vào thực tế triển khai bài viết của học sinh: tư duy đoạn và tư duy văn bản; tư duy bên ngoài và tư duy sâu.
* Tư duy đoạn và tư duy văn bản
Căn cứ vào sự triển khai và mạch ý của một bài văn trong thực tế, chúng ta thấy giải thích xuất hiện ở phạm vi đoạn và giải thích ở phạm vi toàn văn bản. Giải thích có phải là quyền năng của một đoạn, một phần nào đó ở trong bài không? Nếu theo quan điểm nội dung giải thích có nhiều cấp độ thì kĩ năng giải thích cũng cần được sử dụng một cách linh hoạt. Rõ ràng, với mỗi đề văn, không thể có câu trả lời duy nhất về cách viết, nhưng chúng ta chắc chắn vẫn đánh giá được cách nào tối ưu hơn.
Minh họa.
Đề bài: “Sống chậm, suy nghĩ khác và yêu thương nhiều hơn”. Anh/ chị có suy nghĩ gì về lời nhắn gửi trên với tuổi trẻ ngày nay.
Cách 1. Theo cách này, các nội dung “sống chậm”, “suy nghĩ khác”, “yêu thương nhiều hơn” được học sinh tách thành đoạn độc lập… Các đoạn sau đó thực hiện nhiệm vụ lý giải, chứng minh, mở rộng, liên hệ… Dưới đây là đoạn văn giải thích thế nào là “sống chậm” để minh họa cho tư duy đoạn:
Sống chậm là dành chút ít thời gian tĩnh tại để ngắm nhìn một bông hoa đẹp, nghe tiếng chim đang ríu rít, lặng mình trong bản nhạc cổ điển, hít thở và ngắm nhìn trời xanh… Sống chậm là dành thời gian nghĩ về cuộc sống và những người xung quanh. Ta chậm một chút để chia sẻ tình thương với em gái nhỏ bán rong trên đường, giúp một bà lão ăn xin tội nghiệp, giúp đẩy gánh hàng nặng của bác xích lô trên con dốc dài… Sống chậm cũng là dành một chút lặng lẽ, riêng tư cho chính mình để nghĩ về những gì đã qua, những gì sắp tới, những gì được mất. Sống chậm không phải lãng phí thời gian mà là trân trọng thời gian, quý trọng những kí ức, những kỉ niệm, thấy quý những gì đã mất như món đồ chơi, chiếc răng sữa thuở ấu thơ… cho đến những gì to tát hơn sau này, một chút sống chậm nhưng biết quý giá “món quà” hiện tại.
Cách 2.
Sớm ra đường, xe cộ qua lại tấp nập, ai cũng mải miết và hối hả. Dừng lại đôi phút đèn đỏ, ai cũng sốt ruột, vẻ mặt thoáng chút lo âu và nghiêm nghị như đang suy nghĩ một việc rất hệ trọng. Đường ai nấy đi, việc ai nấy làm, chúng ta đang lao đi như những con thiêu thân trên một hành trình bất định.
Sống – chậm – lại.
Vẫn biết với con người và đặc biệt là tuổi trẻ, sống là không chờ đợi… Vẫn biết nếu không nhanh nhẹn, không biết chạy đua, làm sao có được những gì mà mình muốn: thành công, tiền bạc, hạnh phúc. Vẫn biết xã hội đương phát triển một cách chóng mặt, thời gian được rút ngắn một cách tối đa: trồng trọt, sản xuất thì rất ngắn thời gian thu hoạch để một năm có thể xen gối thâm canh thêm mấy vụ nữa; máy móc công nghiệp cũng được cải tạo với công suất nhanh nhất; Internet được nâng cấp với tốc độ lan truyền nhanh chóng… Cuộc sống buộc con người phải đi theo guồng quay đó. Phải chăng đó là nguyên nhân gây nên mặt trái xã hội khi lượng người bị trầm cảm, u uất, rối loạn tâm lý ngày càng nhiều hay với lớp trẻ tình trạng “sống thử”, “sống vội”, “sống sơ sài” diễn ra như một định hướng chung. Con người cần phải sống – chậm – lại…
Sống chậm là để cảm nhận những gì tốt đẹp trong cuộc sống.
Ta dành chút ít thời gian tĩnh tại để ngắm nhìn một bông hoa đẹp, nghe tiếng chim đang ríu rít, lặng mình trong bản nhạc cổ điển, hít thở và ngắm nhìn trời xanh… Tâm hồn con người như một mảnh đất với những mầm non vậy, nếu không có những thứ ấy tưới tắm, bón trồng thì đất sao màu mỡ và mầm xanh bé bỏng sao vươn lên tốt tươi được. Đó cũng là lí do tại sao mà không phải vô duyên, vô cớ có rất nhiều người ở Mĩ, ở Châu Âu hay Úc ngày nay muốn trở về với bà mẹ thiên nhiên, tránh xa cuộc sống ồn ào, náo nhiệt và những ước lệ rườm rà của thành phố, những tiện nghi làm cho người ta bạc nhược yếu ớt đi để tìm vào rừng sinh sống, sống ở trên cây, sống chung với thiên nhiên, động vật. Sống chậm một chút nhưng cảm thấy thế giới xung quanh tươi đẹp và đáng sống hơn.
Sống chậm là để dành thời gian nghĩ về cuộc sống và những người xung quanh. Có một câu chuyện cổ tích hiện đại kể về chú mèo Kitty đáng yêu của Nhật Bản. Chú mèo trắng trẻo, mắt to tròn, hiền lành và ngộ nghĩnh nhưng không có miệng bởi chú là hiện thân cho người bạn luôn luôn lắng nghe, cảm thông, thấu hiểu của cô bé đáng thương, cô đơn khi cha mẹ mải công việc, bạn bè bắt nạt, học tập mệt mỏi… và sau này là bạn của toàn trẻ em Nhật. Câu chuyện là bi kịch của cô gái nhỏ trong thời đại nước Nhật chạy đua trong công nghiệp, khoa học kĩ thuật, điện tử, nhịp sống xô bồ đã đẩy những tâm hồn non nớt vào tình trạng khủng hoảng, trầm cảm về tâm lí. Sống vội vã gây cho con người áp lực, căng thẳng và khô héo tâm hồn, lạnh lùng với những người xung quanh. Ta chậm một chút để chia sẻ tình thương với em gái nhỏ bán rong trên đường, giúp một bà lão ăn xin tội nghiệp, giúp đẩy gánh hàng nặng của bác xích lô trên con dốc dài… Một nụ cười, một cái siết tay, một ánh mắt cảm thông là món quà quý giá nhất với những ai đang cô đơn, bế tắc và lạc lõng. Sống chậm còn là để lấy lại cân bằng trong cuộc sống.
Một chút lặng lẽ, riêng tư cho chính mình để nghĩ về những gì đã qua, những gì sắp tới, những gì được mất. Sống chậm không phải là lãng phí thời gian mà là trân trọng thời gian, quý trọng những kí ức, những kỉ niệm, thấy quý những gì đã mất như món đồ chơi, chiếc răng sữa thuở ấu thơ… cho đến những gì to tát hơn sau này, một chút sống chậm nhưng biết quý giá “món quà” hiện tại. Sống chậm cho ta khoảng lặng để rút ra kinh nghiệm từ những thất bại và hi vọng cho tương lai. Tâm hồn mỗi người trẻ tuổi trở nên thâm trầm, sâu sắc, chín chắn và trưởng thành hơn. Sống chậm như vậy đó, không có nghĩa là chậm chạp, lạc hậu mà là sống một cách kĩ lưỡng, tránh những ồn ào, hỗn tạp, a dua, ăn theo; tránh những lối sống gấp, sống ẩu, sống vì những mục đích hiện sinh tầm thường. Sống chậm không phải là sống ít mà thực chất là sống được rất nhiều.
Trong một số cuộc bàn luận gần đây… Vì vậy, suy nghĩ khác đi là…
Ngày nay, có một thực tế khá nghịch lý… Cái mà xã hội hiện đại thiếu nhiều nhất không phải về vật chất mà về mặt tinh thần, chúng ta cần một cuộc sống tràn đầy tình thương yêu…
(Theo Chuyên đề văn nghị luận xã hội, Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Thị Quỳnh Nga)
Cách 2 là lối viết minh họa cho tư duy văn bản. Học sinh triển khai phần thân bài thành 3 phần lớn, mỗi phần làm rõ cho một nội dung đã nêu ở đề bài: sống chậm, suy nghĩ khác, yêu thương nhiều hơn. Ở trên dẫn phần giải thích cho “sống chậm”, là đoạn có khá nhiều ưu điểm trong mạch viết, lối viết.
Thứ nhất, thay vì giải thích ngay “sống chậm” là gì, học sinh đã dẫn dắt một đoạn dài ở đầu, nhưng không thừa, mà rất hợp lý, đoạn dẫn đó nói về sống nhanh, sống vội: “Sớm ra đường… Con người cần phải sống chậm lại…”. Sở dĩ hợp lý vì nó cho thấy tư duy thông minh của học sinh trong lựa chọn lối viết. Đó là cách viết mượn cái đối lập để làm cho vấn đề trở nên dễ hiểu, mượn “sống nhanh, sống vội, sống sơ sài” với những biểu hiện phong phú để dẫn dắt, để làm cho những giải thích của mình ở sau đó trở nên thuyết phục hơn.
Sau đó, gần như đối chọi với những cách sống trên, sống chậm được giải thích cụ thể, cặn kẽ và có chiều sâu: sống chậm là dành thời gian cảm nhận những điều đẹp đẽ ở thế giới tự nhiên xung quanh, là dành thời gian để chăm chút cho tình thương yêu đối với con người, là những phút giây tự soi nghiệm lại chính bản thân mình. Càng viết, câu văn càng có chiều sâu, để rồi đạt đến một kết luận khá chắc về sống chậm là “sống một cách kĩ lưỡng, tránh những ồn ào, hỗn tạp, a dua, ăn theo; tránh những lối sống gấp, sống ẩu, sống vì những mục đích hiện sinh tầm thường. Sống chậm không phải là sống ít mà thực chất là sống được rất nhiều.”
Thêm nữa, đọc kĩ sẽ thấy trong hành văn của học sinh dường như có tính đến cả yếu tố của nhịp. Nhịp văn được tạo nên bởi những câu văn ngắn dài, trùng điệp góp phần quan trọng để truyền đến người đọc hai kiểu sống: vội, nhanh, ẩu và chậm. Có câu văn nối giữa hai phần sống nhanh và sống chậm như một nốt ghìm: “Con người cần phải sống chậm lại”. Những câu “Sống chậm lại” được tách riêng cũng đều có dụng ý.
Về mặt thao tác, song song với giải thích đã có cả đánh giá, bàn luận, chứng minh, so sánh, liên hệ thực tế… Đoạn văn bản trên cho thấy học sinh có kiến thức về đời sống, chịu khó quan sát, lại giàu trải nghiệm. Như vậy, một mũi tên đã trúng được nhiều đích, đó là một hướng viết đáng được ngợi khen. Vậy, giải thích có thể được thực hiện khi đồng thời kết hợp với các phương thức, thao tác nghị luận khác. Đây là kiểu tư duy vượt lên kiểu tư duy đoạn.
* Tư duy bên ngoài và tư duy bề sâu
Đứng trước một luận đề, một nội dung cần giải thích, việc giải thích từ những đơn vị nhỏ nhất như: từ, ngữ và cả nhận định, câu nói là cần thiết (nếu có). Nhưng như thế mới chỉ dừng ở bề ngoài của vấn đề, là tư duy bên ngoài. Bài văn sở dĩ hay vì người viết ngoài nhận thức được những việc cơ bản cần làm còn ý thức được những việc quan trọng nên làm. Việc quan trọng nên làm đó tạo thành cấp độ thứ hai, là tư duy ở bề sâu: giải thích cơ sở của luận đề và nghĩa lý của vấn đề. Để làm rõ điều này, người viết minh họa bằng phân tích dưới đây.
Đề bài: Có nhà nghiên cứu văn học cho rằng Nguyễn Tuân là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc.
Có thể hiểu nhận định đó như thế nào? Hãy làm rõ qua trải nghiệm của anh/ chị về ngôn từ nghệ thuật của nhà văn họ Nguyễn trong một tác phẩm tự chọn.
Để giải thích cho ý Nguyễn Tuân là “bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc”, trong một bài văn, học sinh viết như sau.
Nguyễn Tuân từng cho rằng:“Nghề văn là nghề của chữ… Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa sinh sự để sự sinh.” Quan niệm nghiêm túc về cái nghiệp đeo đuổi đời mình, ông không bao giờ có thái độ hời hợt, phong thái nhàn nhã dạo chơi. Văn chương và từ ngữ, phàm của Nguyễn Tuân đều phải được đầu tư, nghiên cứu sâu rộng, sao cho đạt đến được đúng bản chất của sự vật trong thế giới khách quan, chứ không đơn giản là sản phẩm của tư duy một chiều. Ông khao khát và luôn đặt ra câu hỏi để đi tìm đến cùng bản chất của sự vật. Hãy xem ông loay hoay thế nào khi muốn diễn tả đúng nhất cái màu nước biển Cô Tô:“Biển xanh như gì nhỉ? Xanh như lá chuối non? Xanh như lá chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng… Chưa được ư? Thế thì nó xanh như một màu áo cưới, được không?…” Ông khao khát tìm ra cái bản chất nguyên thủy của sự vật, thì từ ngữ diễn tả nó phải đúng, phải sát, phải trúng. Vì thế mà phải gò câu, luyện chữ. Tinh thần lao động khổ hạnh, khát khao tìm tòi không ngừng nghỉ chính là phẩm chất đầu tiên làm nên nhân cách bậc thầy của Nguyễn Tuân. Đó là tâm thế của một người nghệ sĩ trung thực vô ngần và có yêu cầu rất cao trong nghề nghiệp.
Hơn thế nữa, ông còn muốn tạo ra một thứ ngôn ngữ có màu sắc cá nhân, mang dấu ấn Nguyễn Tuân. Chính ông từng thú nhận:“Lòng kiêu căng của ta đã xui ta chỉ chơi có một lối độc tấu.” Độc tấu trong ngôn ngữ, ấy là bản sắc, bản ngã, cá tính độc đáo. Âm sắc riêng của Nguyễn Tuân, ấy là tài hoa, uyên bác, là phong phú đa dạng, sống động mà lắng đọng nhiều thâm trầm của cuộc sống. Ông tìm thấy cái khoái thú đặc biệt trong việc biểu hiện bản ngã độc đáo ấy vào việc hành văn. Trong “Chữ người tử tù”, ta thấy ông say mê không mệt mỏi, đưa nguyên một hệ thống từ Hán Việt được đầu tư kĩ lưỡng để làm nên một không khí cổ xưa trang trọng. Trong “Người lái đò sông Đà”, ấy lại là sự sáng tạo những từ ngữ mới lạ để phản ánh cuộc sống mưu sinh vùng Tây Bắc hiểm trở. Ngôn ngữ được nâng tầm từ phương tiện biểu đạt nội dung thành một phương tiện thẩm mỹ đặc thù.
Cuối cùng, với Nguyễn Tuân, tiếng Việt là thứ bảo vật truyền đời từ xa xưa mà ông hết lòng yêu quý. Vì thế, “… xây cao thêm cái lâu đài ngôn ngữ dân tộc huy hoàng diễm lệ…” luôn là cái đích cả đời ông theo đuổi. Điều đó đã thúc đẩy ông nghiên cứu sâu rộng, am tường ngõ ngách tiếng Việt, lại bỏ công sáng tạo ra những từ ngữ mới để làm đầy, làm đẹp thêm kho tàng vô giá ấy. Cái đẹp hút hồn Nguyễn Tuân là lời ăn tiếng nói dân tộc mà ông âu yếm tự hào gọi là “tiếng ta”. Ông quan niệm đẹp là trong sáng, nhưng trong sáng không khi nào là đạm bạc, là nghèo nàn trong từ vựng đem ra dùng, trong cách cảm, cách nghĩ, nhất là trong cách nói ra những cảm nghĩ đó. Vì thế ngôn ngữ văn chương Nguyễn Tuân rất giàu có, đa dạng.
Bậc thầy ấy đã đặt cược cả cuộc đời vào nghiệp văn, đã đem lòng yêu mến tiếng mẹ đẻ để rồi luôn nâng cao tinh thần khổ hạnh trong hoạt động sáng tạo ngôn từ, sử dụng câu chữ. Ở ông hội tụ cả phẩm chất, tài hoa và thiên lương cao cả để xứng đáng với danh xưng: bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc.
(Phạm Khánh Hằng, 2014)
Về mạch lạc, triển khai trên gồm 4 đoạn. Đoạn 1 làm rõ quan niệm về nghề văn, tinh thần lao động nghiêm túc và khát khao sáng tạo của Nguyễn Tuân, nguyên cớ thứ nhất của sự sáng tạo ngôn từ. Đoạn 2 làm rõ ý thức về bản chất sáng tạo của nhà văn và đặc điểm phong cách Nguyễn Tuân, nguyên cớ thứ hai của sự sáng tạo ngôn từ. Đoạn 3 bàn về tình yêu của nhà văn với ngôn ngữ dân tộc, cái nguyên cớ sâu xa của sự sáng tạo ngôn từ. Đoạn 4 chốt lại ý của 3 đoạn trên. Việc sắp xếp ý như trên là tương đối hợp lý.
Như vậy, ngoài việc giải thích, làm rõ cái hơn người, tài hoa của Nguyễn Tuân trong sáng tạo ngôn từ, học sinh còn làm rõ được những cơ sở sâu xa của tài năng ấy: muốn là bậc thầy của ngôn ngữ, anh trước hết phải là “bậc thầy của nhân cách” với quan niệm đúng về nghề văn và sự sáng tạo, khao khát sáng tạo mãnh liệt, tinh thần lao động khổ hạnh, tình yêu đối với ngôn ngữ của dân tộc… Chủ động trả lời những câu hỏi mà đề bài không đặt ra trực tiếp nhưng lại cần thiết để làm rõ cho vấn đề nghị luận, đó là một giải thích có chiều sâu.
2.2. Cách rèn kĩ năng – năng lực giải thích trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi văn
2.2.1. Phát huy vai trò của các phương thức, thao tác nghị luận để giải thích
* Vận dụng các phương thức nghị luận để giải thích
Các phương thức khác như miêu tả, biểu cảm, tự sự, thuyết minh có vai trò như thế nào trong văn nghị luận? Có thể khẳng định rằng, văn nghị luận có khả năng dung nạp tất cả mọi phương thức làm văn, nhưng để các phương thức đó phát huy giá trị thì phải tùy vào “hoa tay” của người viết.
Hiểu thế nào về tình yêu nước? Nếu giải thích một cách hàn lâm, xa lạ sẽ khó đi vào lòng người đọc. Dưới đây là đoạn văn sử dụng phương thức biểu cảm để nói về tình yêu nước thật cụ thể, sống động qua những trạng thái cảm xúc khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau.
Khi du lịch ở xa về, một buổi sáng, đứng tựa thành tàu tự nhiên bạn thấy ở chân trời một dãy núi xanh của xứ bạn hiện ra, bấy giờ bạn sẽ thấy tràn lệ cảm ở trong lòng và miệng buột ra những tiếng kêu mừng rỡ. Bạn sẽ cảm thấy tình yêu nước khi bạn ở nước ngoài chợt nghe thấy một người trong đám thợ thuyền nói tiếng nước bạn, tự nhiên bạn đến hỏi chuyện người thợ không quen ấy. Bạn sẽ cảm thấy tình yêu nước, khi bạn nghe thấy người ngoại quốc lăng mạ xứ sở bạn, lòng tức giận sẽ làm cho bạn nóng mặt. Bạn sẽ cảm thấy tình yêu nước mạnh mẽ và vĩ đại hơn nữa, nếu một ngày kia, nước địch vô cớ giày xéo vào đất ta, lúc ấy bạn sẽ thấy nào cha hôn con khuyên câu “dũng cảm”, nào mẹ tiễn con hẹn lúc “khải hoàn”. Bạn sẽ cảm thấy tình yêu nước khi bạn trông thấy những đội quân vất vả trở về với những khúc ca chiến thắng. Bạn sẽ cảm thấy tình yêu nước khi bạn trông thấy lá cờ đỏ sao vàng bị bắn tả tơi đi đầu một toán người nghĩa dũng, ai nấy đều phô cao cái trán buộc băng hay cái tay bị bó, trong đám đông dân chúng hoan hỉ, người ta ném hoa mừng và hô những lời chúc tụng. Bây giờ bạn đã hiểu thế nào là lòng yêu Tổ quốc. … Ví một ngày kia, cha trông thấy bạn về trận được an toàn, nhưng được tin bạn đã lẩn trốn để tránh cái chết, thì người cha vẫn đón bạn lúc đi học về bằng tiếng cười vui vẻ, bấy giờ sẽ đón bạn bằng những tiếng khóc xót xa.
(Theo Chuyên đề văn nghị luận xã hội, Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Thị Quỳnh Nga)
Sự xúc động mừng rỡ khi được nhìn thấy, nghe thấy những thứ quen thuộc; nỗi đau đớn khi xứ sở của mình bị xúc phạm, giày xéo; cảm giác về sự hèn nhát, bị phản bội… đã đánh thức trong chúng ta một thứ tình yêu cao đẹp và thường trực: tình yêu Tổ quốc. Đó là cách viết mượn cảm xúc để hiểu về cảm xúc, mượn tình cảm để đánh thức tình cảm. Phương thức biểu cảm nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ thì giải thích sẽ rất hiệu quả, tuy nhiên điều đó còn phụ thuộc vào kiểu đề văn.
Giải thích cũng có thể thực hiện được khi mượn phương thức tự sự, thậm chí đây còn là một cách phổ biến. Tự sự tức là mượn một câu chuyện, có thực hoặc hư cấu, để giải thích rõ cho một khái niệm, một giá trị, một phẩm chất… để làm tăng sự hấp dẫn, giảm sự nhàm chán và đơn điệu trong lối viết. Tham khảo đoạn văn dưới đây.
Trong lúc mưu sát Poocxena – quốc vương Êtơruxkơ – bao vây La Mã vào năm 508 trước công nguyên, một thanh niên La Mã tên là Muyxiuyt đã bị bắt. Tên vua tức giận điên cuồng này đã ra lệnh đốt lửa tra khảo chàng thanh niên để tìm xem ai là kẻ đồng mưu. Muyxiuyt hiên ngang đi đến bên đống lửa và thản nhiên đưa tay phải vào trong ngọn lửa. Và Muyxiuyt cứ thế tiếp tục đối đáp với tên bạo chúa cho tới lúc cánh tay cháy thành than. Kinh hãi trước hành vi của chàng thanh niên La Mã, quốc vương Poocxena ra lệnh tha cho chàng và hạ lệnh lui binh. Hình tượng Muyxiuyt đã đi vào sử sách của nhân loại như là tấm gương của ý chí. Ý chí có sức mạnh chiến thắng hết thảy.
(Theo Tâm lý học lý thú – NXB Thanh niên)
Đoạn văn trên giải thích thế nào là ý chí của con người, giải thích một cách cụ thể, hình tượng, hấp dẫn. Cần linh hoạt khi sử dụng cách viết này. Dẫn nội dung câu chuyện cũng có nhiều cách, có thể trình bày đầy đủ hoặc tóm lược, biến thành lời dẫn trực tiếp hay lời dẫn gián tiếp, sử dụng toàn phần hay chỉ một chi tiết, tình tiết quan trọng của câu chuyện.
* Vận dụng các thao tác nghị luận để giải thích
Nói đến thao tác trong bài văn nghị luận, đôi khi chúng ta tạm hiểu đó là vấn đề của kĩ thuật, đó là cách viết, lối viết. Học sinh có thể sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, giải thích, chứng minh, bàn luận, so sánh,… ở phạm vi đoạn văn hay ở phạm vi toàn bài. Các thao tác kĩ thuật này là có giới hạn, trong khi cách thức sử dụng chúng là vô hạn. Vì cách thức viết là một tổ hợp vô hạn những kết hợp không lặp lại, chỉ được sinh ra và làm mới khi có những yêu cầu mới trong nội dung nghị luận. Khi cách thức viết liên tục được làm mới, thao tác không chỉ còn là câu chuyện của kĩ thuật nữa, mà trở thành câu chuyện của hành văn sáng tạo.
Với quan điểm đó, người viết sáng kiến cho rằng thao tác giải thích có khả năng dung nạp mọi thao tác. Dưới đây là minh họa về một số cách giải thích hay gặp trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi.
Giải thích bằng so sánh
Bản chất “hướng thiện và hướng thượng” (Ngô Bảo Châu) giúp con người luôn hướng đến những điều tốt đẹp, trong đó có vẻ đẹp của sự tha thứ. Tha thứ cho người nghĩa là ta đang chăm chút cho hành trình vươn tới những điều cao cả, tốt đẹp thêm vững chắc. Con người làm sao có thể yếu đi khi đang ngày càng tiến xa hơn và cao hơn? Trong hành trình này, con người đang tự bồi đắp những giá trị, cao hơn và xa hơn cũng có nghĩa là mạnh mẽ hơn và quyền lực hơn. Quyền lực của đất là bồi đắp và kết tụ, quyền lực của nước là làm tràn đầy, quyền lực của gió là cuốn trôi, quyền lực của lửa là thiêu cháy… và quyền lực của sự tha thứ, có lẽ còn mạnh mẽ hơn quyền lực của đất, nước, lửa, gió. Nó không những kết tụ, trào dâng, cuốn trôi và thiêu rụi mà nó còn có sức mạnh hàn gắn. Sự tha thứ, trên một phương diện nào đó, thật đáng sợ. Người được tha thứ, sẽ không tránh khỏi sự dằn vặt: tại sao sau nỗi đau ta gây ra cho người, thì người lại đối đáp ta bằng lòng khoan dung? Nếu như im lặng là đỉnh cao của sự khinh bỉ thì tha thứ cũng là tột cùng của sự trả thù. Nhưng đó là một sự trả thù thông minh, một sự đối chọi giữa phần Người và phần Con. Người là loài duy nhất có trí tuệ, biết yêu thương và cảm thông và cũng chỉ có Người mới biết thế nào là tha thứ và chỉ có phần Con – giới tự nhiên mới có tham vọng gây thù, gây chiến tranh. Còn gì đau đớn và ê chề hơn khi là con người mà chỉ như giới tự nhiên, hành động theo bản năng, tham vọng mù quáng? Đó chính là câu hỏi, cũng là mũi dao nhọn đâm vào trí óc và làm đau nhói trái tim của những kẻ bị khuất phục bởi quyền lực của sự tha thứ.
(Nguyễn Phương Thảo, tuyển HSGQG 2014)
Đoạn văn trên làm rõ sức mạnh “kép” của sự tha thứ: tha thứ là cách để con người “chăm chút cho hành trình vươn tới những điều cao cả, tốt đẹp thêm vững chắc”, sau đó tha thứ là “tột cùng của sự trả thù” đối với kẻ có tội. Nội dung giải thích dễ hiểu hơn, hấp dẫn hơn nhờ có những câu so sánh sức mạnh của sự tha thứ với sức mạnh của “đất, nước, lửa, gió”, sức mạnh tinh thần này thậm chí còn vượt qua cả quyền lực của tự nhiên. Tha thứ là một loại quyền lực tinh thần cao cả vì nó mang trong mình sức mạnh của hàn gắn.
Giải thích bằng chứng minh
Đề bài: Hãy viết một bài văn nghị luận bàn về SỰ ĐÚNG GIỜ và THÀNH CÔNG.
Một người luôn làm việc đúng giờ thì trong sự nghiệp nhất định sẽ thành công. Napoleon nói, sở dĩ ông ta có thể đánh bại quân đội nước Áo, chính là vì những người lính nước Áo không hiểu được giá trị của thời gian “năm phút”, “mỗi lần sai một phút” tức là đã để cho “bất hạnh” một kẽ hở.
Trong công việc, cái quý nhất là đúng giờ vì người đúng giờ không lãng phí thời gian của mình, cũng không lãng phí thời gian của người khác. Napoleon có lần mời tướng sĩ của ông ta ăn cơm, vì các vị tướng không đến đúng giờ nên chỉ có một mình ông ngồi ăn. Đến khi các tướng sĩ lục tục kéo đến thì Napoleon rời bàn ăn, nói: “Thưa các vị! Giờ ăn đã hết rồi, bây giờ chúng ta phải làm việc ngay tức khắc”.
(Theo Chuyên đề văn nghị luận xã hội, Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Thị Quỳnh Nga)
Hai đoạn văn trên giải thích về tầm quan trọng của việc cần phải đúng giờ trong cuộc sống, thực ra đây là điều ai cũng hiểu, cũng biết nhưng để có hành động đúng giờ thì không phải ai cũng làm được. Về tầm quan trọng của việc cần phải đúng giờ, nếu như chưa “nếm trải”, trả giá chắc có lẽ nhiều người sẽ còn xem thường và coi nhẹ. Để làm rõ cho luận điểm “Một người luôn làm việc đúng giờ thì trong sự nghiệp nhất định sẽ thành công”, học sinh lấy dẫn chứng về người đã thành công trong sự nghiệp để thay lời giải thích, đó là Napoleon, người luôn đúng giờ trên cả phương diện lời nói, quan điểm và việc làm. Thái độ sống đó không chỉ khiến cho kẻ thù của ông phải ngả mũ mà còn khiến cho cả những tướng sĩ của ông cũng phải nể phục.
2.2.2. Sử dụng liên tưởng, tưởng tượng để giải thích
Như đã trình bày ở trước, “bản sắc năng lực” của học sinh giỏi văn được thể hiện ở khả năng tư duy, xúc cảm. Tư duy, xúc cảm của học sinh giỏi văn được thể hiện rất rõ nét qua tổ hợp phẩm chất liên tưởng, tưởng tượng.
* Giải thích bằng liên tưởng
SGK Ngữ văn 10 nâng cao giải thích về liên tưởng: là một hoạt động tâm lí, từ việc này nghĩ đến việc kia, người này liên hệ đến người nọ, do trong thực tế các sự vật, hiện tượng tồn tại không tách rời mà có quan hệ với nhau. Một học sinh giỏi văn phải có khả năng liên tưởng tốt vì đó là điều kiện cần để huy động các kiến thức, kết nối các sự vật. Khi giải thích một vấn đề, một hình ảnh, một từ ngữ, liên tưởng tốt nghĩa là có thể đưa các ý niệm trừu tượng trở nên cụ thể, sinh động và ngược lại từ những sinh động của đời sống mà nâng lên thành những chân lý phổ quát.
Đề: Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến: “Nếu muốn vươn tới tầm cao mới, bạn phải thay đổi suy nghĩ của chính mình”.
Học sinh viết:
Con người, loài nhỏ bé trong vũ trụ, bị trói buộc trong những giới hạn và định luật của sự sống.
Bị giới hạn bởi thời gian cuộc đời ngắn ngủi, con người đã nỗ lực chạy đua với chính thời gian để tìm ra những công cụ nối dài sự sống, tăng chất lượng sống. Người ta trẻ đẹp hơn mỗi ngày. Người ta khỏe mạnh hơn mỗi giây phút. Người ta từ cõi chết trở về vì được cứu chữa bằng một phương pháp hiện đại. Con người đã đạt đến những tầm cao mới.
Bị giới hạn bởi hình vóc nhỏ bé nhưng con người dám thách thức mọi không gian. Con người từ ước muốn được di chuyển nhanh như ngựa đã sáng tạo ra xe kéo, sau đó là xe đạp, là những phương tiện nhanh hơn như ô tô hay tàu lửa. Di chuyển trên mặt đất, con người còn suy nghĩ mình sẽ được bay lượn trên bầu trời như những chú chim, thế là máy bay ra đời. Giờ đây, con người đang vươn đến những vì sao, chinh phục vũ trụ. Con người đã thực sự sở hữu những tầm cao mới.
Bị giới hạn bởi ngôn ngữ, tập quán, tính cách của dân tộc nhưng con người chẳng phải vẫn muốn mình là một phần mật thiết của thế giới toàn cầu đang biến động ngoài kia đó sao? Vì thế con người đã chủ động phá bỏ rào cản ngôn ngữ, tiếp thu tinh hoa văn hóa và văn minh của nhân loại. Con người cũng dám xóa bỏ những định kiến, dám chấp nhận thất bại, thừa nhận điểm yếu của mình để được dấn bước và khẳng định. Đó là những tầm cao mới.
Mỗi tầm cao mới trở thành một giới hạn mới, tiếp tục thôi thúc con người chinh phục, và phá vỡ.
Sức mạnh nào giúp chúng ta có thể phá vỡ được giới hạn? Trong hàng ngàn năm kiến tạo văn minh của loài người, chỉ có một dòng chảy không ngừng vận động, đó chính là dòng chảy của ý thức nhân loại, là chiến trường của tư duy bề bộn. Trong tư duy, có những dòng chảy xuôi, đó là khi loài người đi theo con đường đã biết. Con đường đã biết là một con đường cũ, nó chỉ cho ta một lối mòn, chỉ cho ta một kết quả không đổi và lặp lại. May mắn thay, con người không cam chịu! Con người còn lội ngược dòng trong tư duy khi không ngừng đặt câu hỏi, làm cho những suy nghĩ mới, những ý tưởng mới được giải phóng và đi tìm những điều kiện có thể để biến chúng trở thành hiện thực. Để bứt khỏi những giới hạn, ta buộc phải nghĩ khác. Bởi vì “Bạn chỉ khống chế được một điểm duy nhất trong vũ trụ này: ấy là tư duy của bạn.” (Brian Tracy) Thay đổi phẩm chất của tư duy, thay đổi chất lượng cuộc đời, thay đổi cũng có nghĩa là những “tầm cao mới” không ngừng được chinh phục. Vậy tại sao không, khi tất cả đều trong tầm tay của chúng ta?
(Nguyễn Ngọc Hà, HSGQG 2014)
Để giải thích tầm cao mới là gì, học sinh viết ba đoạn văn, mỗi đoạn đưa ra một biểu hiện khác nhau. Đoạn thứ nhất giải thích tầm cao mới là nỗ lực chiến thắng thời gian, đoạn thứ hai giải thích tầm cao mới là nỗ lực chiến thắng không gian, đoạn ba nói về sự nỗ lực phát triển con người cá nhân. Cuối cùng, đoạn bốn có chức năng truy tìm cái nguyên nhân sâu xa của nỗ lực chinh phục những tầm cao: thay đổi tư duy, thay đổi suy nghĩ. Bốn đoạn văn đều thể hiện sự liên tưởng hợp lý: từ giới hạn của con người mà liên tưởng đến những cách khác nhau để phá vỡ giới hạn đó; liên tưởng tư duy con người với dòng chảy, phân biệt dòng chảy xuôi, dòng chảy ngược… Liên tưởng đã làm cho dẫn chứng hòa hợp với lý lẽ, làm cho lập luận trở nên tự nhiên, sinh động.
Đề: Có ý kiến cho rằng: Trong tác phẩm văn học, sức chinh phục mạnh mẽ đến từ những chi tiết nghệ thuật có độ nén về cảm xúc và tư tưởng.
Ý kiến của anh/ chị? Thể hiện trải nghiệm của mình về một vài chi tiết nghệ thuật đắt giá mà anh/ chị tâm đắc.
Học sinh viết:
Cuộc sống được tạo nên từ những điều rất nhỏ. Nghệ thuật cũng vận hành theo quy luật ấy.
Bàn về vai trò của chi tiết trong tác phẩm nghệ thuật, Pauxtopxki từng cho rằng: “Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm”. Bụi vốn nhỏ bé, dễ lẫn, nhạt nhòa, phổ biến. Còn bụi vàng, nhỏ bé nhưng không dễ lẫn. Bụi vàng, nhỏ bé nhưng lấp lánh ánh sáng. Bụi vàng, nhỏ bé nhưng quý giá. Bụi vàng trong tác phẩm nghệ thuật là những chi tiết đắt giá, cái đắt chẳng dễ mua, dễ tìm, lấp lánh ánh màu của sự sống, và tự nó làm nên một giá trị.
Chi tiết đắt chính là bụi quý trong lao động của nhà văn, được mua bằng cái giá của lao động nghệ thuật chân chính: sức lực, tâm huyết, tình yêu, trải nghiệm. Ai dám chắc “bông hồng vàng” sẽ nở nếu không có một anh thợ quét rác thành Paris kiên trì gom bụi quý cho cô gái Xuyzan? Làm sao có được “tiếng hót hay nhất thế gian” nếu con chim nhỏ bé không lao mình vào bụi mận gai, đánh đổi cả sinh mệnh? Và làm sao “chiếc lá cuối cùng” còn ở trên cành để mang lại niềm tin cho một trái tim bé bỏng nếu không có hi sinh của người họa sĩ ấy? Đó không phải là truyền thuyết, là hư cấu, đó là những bông hoa của cuộc đời đã nở sau tất cả những hành trình hi sinh, khát vọng mệt nhoài. Bụi quý là tinh hoa, tinh huyết nở ra sau lao động cao quý của nhà văn.
Thế nên, bụi vàng – chi tiết tuy nhỏ bé thế mà bao chứa trong đấy là cả một đời người, một gửi gắm, một mong đợi về nhân sinh. Trong đó là xúc cảm và tư tưởng đã được đúc lại, nén kĩ, chờ đợi thời cơ để được chinh phục và chinh phục.
(Trần Thị Thùy Linh, HSGQG 2013)
Trước yêu cầu ra ở đề bài trên, thay vì thực hiện giải thích các từ ngữ trong nhận định như “chi tiết nghệ thuật”, “độ nén về cảm xúc và tư tưởng”, học sinh đã mượn một câu nói của Pauxtopxki về chi tiết nghệ thuật để bắt dẫn và dựa vào đó để giải thích vấn đề một cách tự nhiên. Cách viết này của học sinh thể hiện hai sự liên tưởng.
Thứ nhất là sự liên tưởng (tương đồng) trong nội dung giải thích. Thay vì giải thích trực tiếp A (ý kiến ở đề bài) là gì, học sinh mượn một nội dung A’ (câu nói của Pauxtopxki) để làm rõ cho bản chất của A. Chi tiết như bụi quý, bụi vàng của tác phẩm vì nó mang tâm, sức, tình, trải của nhà văn. Vì thế, chi tiết đắt giá có sức chinh phục rất mạnh mẽ.
Thứ hai là sự liên tưởng khi sử dụng dẫn chứng. Để làm rõ cho ý: chi tiết chứa đựng sức lực, tâm huyết, tình yêu, trải nghiệm của nhà văn, học sinh đã liên tưởng đến ba chi tiết hay: bông hồng vàng trong “Bụi quý” của Pauxtopxki, tiếng hót của con chim lao mình vào bụi mận gai trong “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” của Colleen McCulough, chiếc lá trong “Chiếc lá cuối cùng” của O Henry. Ba chi tiết này vừa khái quát được bản chất lao động sáng tạo của nghệ sỹ, vừa gợi mở khả năng nén tư tưởng và cảm xúc kì diệu của chi tiết nghệ thuật.
* Giải thích bằng tưởng tượng
SGK Ngữ văn 10 nâng cao giải thích về tưởng tượng: là hoạt động tâm lí nhằm tái tạo, biến đổi các biểu tượng trong trí nhớ và sáng tạo ra hình tượng mới, có vai trò quan trọng với làm văn nói chung và sáng tác văn học nói riêng.
Đối với làm văn, bài văn mà học sinh sáng tạo ra cũng giống như một thế giới thu nhỏ, ở đó chủ thể chính là cái tôi của người viết, cái tôi ấy được quyền kiến tạo ra một thế giới mới với những không gian tưởng tượng, thời gian tưởng tượng, sự vật, con người tưởng tượng… Nhưng khác với nhà văn, trong khi nhà văn bị chi phối nhiều bởi quy luật của sáng tạo thì học sinh nghiêng về chịu quy luật của tiếp nhận, ở đó tác động của các giá trị sống và các giá trị nghệ thuật lên học sinh sẽ góp phần hình thành những tưởng tượng phong phú. Dưới đây là minh họa.
Đề bài: Nhiều người tưởng sự tha thứ làm cho người ta yếu đi. Mandela chứng minh ngược lại: Tha thứ làm cho người ta mạnh mẽ. Một số nhà bình luận chính trị cho quyền lực của Mandela, trước hết, là quyền lực của sự tha thứ (power of forgiveness). Và đó là bài học quan trọng nhất mà Mandela để lại cho nhân loại.
Ý kiến của anh/chị.
Để giải thích bài học mà Mandela để lại cho chúng ta: tại sao tha thứ lại làm cho ta mạnh mẽ, học sinh viết:
Thần thoại Hy Lạp vẫn thường nhắc đến Hec Quyn như là một vị thần của sức mạnh cơ bắp cuồn cuộn, đó là hình tượng thể hiện khát vọng sở hữu sức mạnh thể chất của nhân loại. Song, cũng chính chúng ta, con người bình thường nhỏ bé, lại sở hữu những điều kì diệu ẩn sâu bên trong. Sâu bên trong chúng ta là một vùng đất đặc biệt, ở đó có thể là thiên đường, cũng có thể là địa ngục, nếu mảnh đất ấy được soi sáng bởi một trí tuệ anh minh, một trái tim chân thành, một thiên lương cao đẹp, một tấm lòng khoan dung, thì nơi đó, thiên đường sẽ nở hoa. Sự tha thứ ẩn sâu bên trong, bấy lâu nay “tưới tắm” cho mảnh đất tâm hồn mà chúng ta đâu hề hay biết. Trên mảnh đất ấy, những hạt giống sức mạnh được gieo mầm, cho đến khi trở thành những cái cây mạnh mẽ nhất giúp chúng ta vượt qua mọi ranh giới, mọi thử thách và nâng đỡ ta trên những hành trình dài và rộng của cuộc đời. Nó còn giúp ta sẵn sàng gạt bỏ những bụi bẩn thấp hèn, mở rộng tâm hồn để đón những gì cao quý. Trên hành trình của định mệnh, thật khó tránh khỏi những vô tình làm tổn thương người khác, bị người khác làm tổn thương, hay chính mình tự gây tổn thương… Làm thế nào để xoa dịu những tổn thương ấy? Chúng ta cần học cách tha thứ. Tha thứ không có nghĩa là bôi xóa quá khứ, hay quên đi những gì đã xảy ra, cũng không có nghĩa là người khác sẽ thay đổi hành vi mà đó là khi ta buông xả cơn giận hay cay đắng những nỗi đau để chuyển sang một miền tốt đẹp, an vui hơn. “Nhiều người tưởng sự tha thứ làm cho ta yếu đi”, Mandela đã chứng minh ngược lại: khi chúng ta biết kiềm chế cay đắng để đến với điều tốt đẹp hơn, là tự chúng ta đã tạo nên sức mạnh giúp ta vượt qua mọi trở ngại. Đó cũng là bài học quan trọng nhất, thấm thía nhất mà Mandela để lại cho chúng ta.
(Nguyễn Phương Thảo, tuyển HSGQG 2014)
Nhờ viết bằng tưởng tượng, học sinh đã tự khám phá miền đất bên trong con người mỗi chúng ta, phát hiện ra miền đất ấy có thể là thiên đường nhưng cũng có thể là địa ngục. Sẽ là thiên đường nếu như chúng ta biết tưới tắm, chăm bón cho hạt giống tha thứ, khoan dung, nếu chúng ta biết buông xả để tâm hồn được thanh thản. Khi giải thích về thế giới bên trong con người, về những giá trị được nuôi dưỡng và làm nên nhân cách con người thì tưởng tượng là một cách phù hợp. Tưởng tượng cũng góp phần làm cho hành văn trở nên mềm mại, uyển chuyển, truyền cảm.
Đề bài: “Bóng tối” và “ánh sáng” – không gian nghệ thuật đầy ám ảnh trong truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Hãy vào vai một người đọc trải nghiệm để làm rõ điều đó.
Dưới đây giải thích của học sinh về “bóng tối” trong truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Miêu tả bóng tối không phải là việc khó, nhưng mang đến cho bóng tối ý nghĩa biểu tượng và dựng thành không gian nghệ thuật thì đó lại là tài năng.
Không khó để nhận diện bóng tối trong truyện khi Thạch Lam tả ánh sáng tắt dần trong buổi chiều quê buồn man mác, tả bầu trời đêm, tả phố huyện với chỉ những khe sáng, hột sáng le lói, tả cái gian hàng nhỏ bé của hai chị em không có ánh đèn… Nhưng bóng tối không phải là khi mặt trời đã tắt. Bóng tối đáng sợ hơn thế, khi chiều vừa về thôi mà đôi mắt của cô bé Liên đã “bóng tối ngập đầy dần”, khi phố huyện chỉ còn là một khoảng trống đen đặc lúc đoàn tàu rực rỡ đã đi qua, khi Liên đã chìm vào giấc ngủ yên tĩnh mà bóng tối vẫn vây quanh như đêm trong phố “tịch mịch và đầy bóng tối”. Bóng tối là nỗi buồn man mác, dai dẳng kéo dài, vây khốn trái tim những đứa trẻ còn đang non nớt, từ ngày này qua ngày khác, không hứa hẹn có ngày vui. Bóng tối là nỗi cô đơn của những con người ở phố huyện nghèo, không trừ một ai, họ ở cùng nhau trong một không gian tù đọng. Đoàn tàu đi qua phố huyện, nó mang theo âm thanh, nó mang theo ánh sáng, nó còn là hiện diện của một hành trình trong khao khát và mơ tưởng. Đó chính là hình ảnh đối chọi mãnh liệt nhất với những con người phố huyện, những người đang đi ngược lại với những hành trình.
Truyện dường như không có sức hút mạnh của nam châm nhưng lại mang đến cảm giác về một cơn mưa dầm buốt lạnh, bởi nó có khả năng vẽ ra một dạng tồn tại của nhân sinh này. Tồn tại ấy là tồn tại dự báo tàn lụi, tồn tại nghiêng về mặt âm của sự sống. Cái nghèo, buồn, tẻ nhạt kia sẽ nuốt chửng tất cả chừng ấy con người, chẳng còn dấu vết. Liên của hôm nay sẽ mất dấu trong cuộc đời, sẽ chỉ còn lại một chị Tí của tương lai. Câu chuyện về một phố huyện Thạch Lam viết xong từ những thập kỉ đầu của thế kỉ trước có phải chỉ dành cho những phận người khổ nghèo trước Cách mạng? Hay nó là một dự báo cho kiếp người, những kiếp người mà dù nhân loại có tiến đến văn minh của hàng trăm năm nữa thì họ cũng vẫn là những tồn tại như thế, chỉ mãi trong vùng tối, ở một thế giới chưa bao giờ sáng hết cho tất cả mọi sinh linh?
Tưởng tượng có thể giúp nghệ sỹ tạo ra một thế giới không có thật hoặc chưa có, nhưng tưởng tượng còn giúp nghệ sỹ thiên tài khám phá một thế giới đang hiện hữu mà có biết bao tồn tại chính nhân loại cũng chưa bao giờ ngờ đến, biết đến. Nó khiến người ta phải giật mình thổn thức vì những hờ hững vô tư và vô tâm.
(Nguyễn Thanh Hằng, HSGQG 2014)
Viết về một thế giới giàu tưởng tượng như văn Thạch Lam, học sinh chắc chắn cũng cần huy động tưởng tượng. Tưởng tượng giúp học sinh hình dung bóng tối trong truyện như cơn mưa dầm buốt lạnh, càng đọc càng thấm, càng buốt. Tưởng tượng để nhìn xuyên suốt về ý nghĩa của hình tượng Liên: Liên của Thạch Lam, những Liên của hiện tại, những người như Liên trong tương lai. “Bóng tối” mà Thạch Lam nói trong “Hai đứa trẻ” là một biểu tượng mạnh mẽ cho những khổ đau của con người, và dường như nó chưa bao giờ chấm dứt trên “trái đất ba phần tư nước mắt” này.
2.2.3. Tạo kết cấu và điểm nhìn cho giải thích
* Tạo kết cấu cho giải thích
Tạo kết cấu cho nội dung cần giải thích là một hành động thông minh của học sinh, nếu điều này được chú ý rèn luyện thì bài văn nghị luận sẽ có thể đạt hiệu quả rất cao. Bởi vì kết cấu nói lên rất nhiều điều về tư duy, về khả năng tổ chức ý, về sự linh hoạt và năng lực chế ngự, kiểm soát kiến thức của học trò.
Khi thực hành thao tác giải thích, kết cấu trở nên vô cùng cần thiết, vì kết cấu hiệu quả thì mới đạt đích nghị luận. Tuy vậy, cũng cần phân biệt hai mức độ kết cấu: kết cấu trong đoạn và kết cấu ngoài đoạn. Kết cấu trong đoạn được tạo nên trong phạm vi một đoạn văn, còn kết cấu ngoài đoạn là kết cấu toàn văn bản. Kết cấu toàn văn bản chi phối đến mọi kĩ năng được sử dụng trong bài viết, trong đó có kĩ năng giải thích. Lựa chọn kết cấu nào thì sẽ có cách giải thích đó. Do giới hạn về dung lượng sáng kiến nên dưới đây người viết chỉ phân tích kết cấu trong đoạn, còn kết cấu ngoài đoạn vì có khá nhiều phức tạp về mô tả, minh họa nên sẽ viết thành một chuyên đề khác để chia sẻ và trao đổi với đồng nghiệp có quan tâm.
Dưới đây là trình bày về kết cấu đoạn (kết cấu trong đoạn).
Đoạn là một kết cấu tương đối độc lập trong bài văn nhưng đoạn không khi nào tách rời với bài văn mà là một phần có quan hệ mật thiết với chỉnh thể. Dưới đây là minh họa về kết cấu đoạn giải thích học sinh có thể học để viết theo.
Mỗi người đều có quyền năng đem lại hạnh phúc cho người khác. Có người làm điều đó chỉ đơn giản bằng cách bước vào phòng – người khác bằng cách rời khỏi phòng. Có người để lại sau lưng những bước chân ủ dột; người khác, dấu vết của niềm vui. Có người để lại sau lưng vệt hận thù và cay đắng; người khác, dấu vết của tình yêu và sự hài hòa. Có người để lại sau lưng những hoài nghi và bi quan; người khác, dấu vết của niềm tin và sự lạc quan. Có người để lại sau lưng những chỉ trích và bỏ cuộc; người khác, dấu vết của lòng biết ơn và hy vọng. Còn bạn, bạn để lại gì sau lưng mình?
(Theo http://www. tudiendanhngon.vn)
Trong đoạn trên, câu 1 là câu chủ đề, các câu sau được viết theo lối song hành – liệt kê, mỗi câu lại có cấu trúc tương phản. Câu 1 nêu ý khái quát “quyền năng đem lại hạnh phúc cho người khác” của mỗi người, các câu sau giải thích cho ý nêu ở câu 1 bằng cách nêu những cách khác nhau mà chúng ta có thể làm để đem lại hạnh phúc cho người khác. Những câu văn giải thích được viết bằng cấu trúc tương phản tạo nhịp cho đoạn văn, đồng thời nhấn mạnh: quan niệm về hạnh phúc là không giống nhau ở mỗi người. Muốn đem lại hạnh phúc cho người khác, bạn hãy hành động đúng lúc, đúng chỗ.
Còn đoạn văn dưới đây sử dụng kết cấu Hỏi – Trả lời, đây là một kết cấu khá dễ viết, sử dụng cho văn nghị luận xã hội và văn nghị luận văn học.
Hạnh phúc là gì? Một số người cho đó là sự thỏa mãn. Trong một chừng mực nào đó thì họ đúng. Một ngụm nước mát đối với những người sắp chết khát – đó không đơn thuần chỉ là sự thỏa mãn. Đó là hạnh phúc. Và ngay một mẩu bánh mì đối với người sắp chết đói, một túp lều ấm cúng đối với người lữ khách đang gặp cơn bão tuyết cũng là hạnh phúc… Còn hạnh phúc của chúng tôi và các bạn – đó chẳng lẽ chỉ là sự thỏa mãn thôi sao? Dĩ nhiên không phải.
(Tâm lý học lý thú – NXB Thanh niên)
Còn rất nhiều cách kết cấu đoạn có thể được làm mới trong tay viết của học trò, thầy cô cần khơi gợi để các em thể hiện. Kết cấu mới, độc, lạ thường gây bất ngờ trong nhận thức, mang đến những hiệu quả không ngờ.
* Tạo điểm nhìn cho giải thích
Viết văn, bạn nhìn từ đâu? Câu hỏi đó có vẻ hơi kì quặc nhưng có những nghĩa lý quan trọng.
Nghị luận, nghĩa là anh phải thuyết phục người khác, muốn thuyết phục người khác anh phải có đủ cơ sở, điểm tựa. Xưa nay chúng ta vẫn hiểu thuyết phục nghĩa là dùng lý lẽ, dẫn chứng, lập luận, coi đó như những cơ sở rất vững chắc cho nghị luận. Điều đó đúng nhưng chưa đủ bởi nghị luận còn cần có điểm tựa. Điểm tựa đó cho biết cơ sở nhận thức của bạn về vấn đề, lý giải cách bạn nghị luận, và cũng cho biết thái độ của bạn. Một trong những điểm tựa quan trọng là điểm nhìn. Viết văn cũng cần có điểm nhìn như nghệ sỹ sáng tác tác phẩm nghệ thuật vậy.
Điểm nhìn cho biết anh quan sát thế giới từ đâu? Cái nhìn có thể là của một ai đó, ngoài anh, hoặc cái nhìn đó là của chính bản thân anh. Không có điểm nhìn nào là tối ưu cho mọi bài văn, vì thế khi sử dụng phải linh hoạt. Dưới đây là phân tích về điểm nhìn khách quan và điểm nhìn cá nhân được sử dụng khi viết đoạn giải thích.
Điểm nhìn khách quan
Soi chiếu lại đoạn văn giải thích về tầm quan trọng của việc cần phải đúng giờ, học sinh đã làm rõ vấn đề bằng cách mượn điểm nhìn của Napoleon và kể câu chuyện về tác phong làm việc của ông.
Một người luôn làm việc đúng giờ thì trong sự nghiệp nhất định sẽ thành công. Napoleon nói, sở dĩ ông ta có thể đánh bại quân đội nước Áo, chính là vì những người lính nước Áo không hiểu được giá trị của thời gian “năm phút”, “mỗi lần sai một phút” tức là đã để cho “bất hạnh” một kẽ hở.
Trong công việc, cái quý nhất là đúng giờ vì người đúng giờ không lãng phí thời gian của mình, cũng không lãng phí thời gian của người khác. Napoleon có lần mời tướng sĩ của ông ta ăn cơm, vì các vị tướng không đến đúng giờ nên chỉ có một mình ông ngồi ăn. Đến khi các tướng sĩ lục tục kéo đến thì Napoleon rời bàn ăn, nói: “Thưa các vị! Giờ ăn đã hết rồi, bây giờ chúng ta phải làm việc ngay tức khắc”.
Như vậy, điểm nhìn khách quan thường được sử dụng khi học sinh trình bày hiểu biết, tri thức đã thu nhận được. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng điểm nhìn khách quan thì bài văn sẽ kém hấp dẫn.
Điểm nhìn cá nhân
Dưới đây là một đoạn văn giải thích được viết từ điểm nhìn cá nhân. Dấu hiệu để nhận diện điểm nhìn cá nhân ở đoạn này khá rõ nét, bởi vì học sinh trả lời cho câu hỏi thứ nhất “Tại sao anh yêu xứ sở của anh” bằng đại từ “tôi”.
Tại sao anh yêu xứ sở của anh? Câu hỏi ấy chẳng làm nảy nở trong tâm trí mọi người biết bao nhiêu câu trả lời? Tôi yêu xứ sở của tôi vì mẹ tôi sinh trưởng ở đấy, vì nguồn máu trong huyết quản của tôi đều là của người, vì tất cả những người quá cố mà mẹ tôi thương, mà cha tôi trọng, vì cái đất mà tôi sinh, thứ tiếng tôi nói, quyển sách tôi học, các em tôi, chúng bạn tôi và một dân tộc lớn chung sống với tôi, cảnh đẹp của tạo hóa bao bọc chung quanh tôi,… Tất cả những sự vật mà tôi đã trông thấy, tất cả những cái gì mà tôi yêu, tất cả những cái gì mà tôi quý nhất nhất đều thuộc về xứ sở của tôi cả.
(Chuyên đề văn nghị luận xã hội – Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Thị Quỳnh Nga)
Xác định đoạn văn trên sử dụng điểm nhìn cá nhân không chỉ dựa vào đại từ “tôi”, vì xét cho cùng đó cũng chỉ là dấu hiệu bên ngoài. Căn cứ mạnh mẽ nhất có thể dựa vào chính là nội dung viết. Nội dung viết là những chia sẻ rất thực của học sinh về tình yêu của mình đối với xứ sở, nơi mình được sinh ra, nơi mình được cho da cho thịt, được nuôi dưỡng và lớn lên bằng tất cả những gì thân thuộc nhất.
Từ việc khảo sát điểm nhìn bên trong, người viết chuyên đề phát hiện điểm nhìn bên trong có chứa những điểm độc đáo mà chỉ bài viết văn của những học sinh có năng lực thực sự mới bộc lộ rõ nét. Tìm hiểu điểm nhìn cá nhân, có thể hiểu thêm về hai phẩm chất đặc biệt của học sinh giỏi: phẩm chất văn hóa và phẩm chất trải nghiệm. Người viết tiếp tục đề xuất hai cách viết đoạn giải thích: từ điểm nhìn văn hóa và từ điểm nhìn trải nghiệm.
2.2.4. Giải thích bằng điểm nhìn văn hóa và trải nghiệm
* Giải thích bằng điểm nhìn văn hóa
Ở mỗi bài văn của học sinh giỏi, qua năng lực văn chương, thầy cô có thể soi thấy một tầng khác, đó là năng lực văn hóa. Nếu năng lực văn chương là hình, thì năng lực văn hóa chính là bóng, là ảnh. Bóng sẽ làm lộ hình. Và như thế, chúng tuy hai mà một, không thể tách rời. Một bài văn hay sẽ cho người đọc những trải nghiệm văn hóa thú vị.
Năng lực văn hóa của học sinh được bộc lộ rất rõ nét qua điểm nhìn văn hóa – soi chiếu đối tượng từ góc độ văn hóa. Mà văn hóa thì không phải là kiến thức, văn hóa cao hơn kiến thức, thường kết tinh ở những giá trị. Như vậy, giải thích một đối tượng từ điểm nhìn văn hóa nghĩa là soi chiếu đối tượng từ các giá trị.
Đề bài: Trải nghiệm của anh/ chị về “ánh sáng” và “bóng tối” trong đoạn trích truyện “Vợ chồng A Phủ” (SGK Ngữ văn 12, NXBGD, 2016).
Giải thích về “ánh sáng” trong truyện “Vợ chồng A Phủ”, học sinh viết như sau.
Ánh sáng, năng lượng sống ấy quan trọng xiết bao đối với mỗi chúng ta. Nó sưởi ấm, nó soi đường, nó dẫn ta đến với những điều tốt đẹp. Trong truyện “Vợ chồng A Phủ”, cuộc sống của cô Mị ở nhà thống lý Pá Tra là một chuỗi ngày không ánh sáng. Có một lúc nào đó, trong cuộc sống của Mị xuất hiện chút ít ánh sáng, nhưng chỉ là thứ ánh sáng tỏa ra từ cái “ô cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay” “không biết là sương hay là nắng”, ánh sáng của sự cầm tù, là bóng đêm của vô thức, vô cảm. Ánh sáng chỉ trở về khi mùa xuân năm ấy gõ cửa Hồng Ngài, trong màu của cỏ gianh vàng ửng, màu của những chiếc váy hoa xòe như con bướm sặc sỡ, trong âm thanh tiếng cười đùa lũ trẻ chơi quay trước nhà đợi tết, trong thanh âm tiếng hát, tiếng sáo…
Đặc biệt là tiếng sáo, tiếng sáo gọi bạn làm cho cô Mị bấy lâu câm lặng bỗng nhiên cất tiếng hát. Có lẽ vùng ánh sáng có sức “động đậy” hơn cả trong tác phẩm chính là âm thanh kì diệu này, thứ âm thanh như muốn đọng lại trong không gian “lấp ló”, “lửng lơ”, quy hồi trong nó cả hiện tại, kí ức và khao khát ngày mai… Sáo là biểu tượng của hạnh phúc. Sáo còn là tiếng gọi của tự do. Sáo chính là ánh sáng của âm thanh, là thứ âm thanh – ánh sáng. Âm thanh ánh sáng gọi thức ánh sáng của tâm hồn: tình yêu cuộc sống. Với âm thanh này, có lẽ Tô Hoài không chỉ muốn làm bừng thức tâm hồn của một cô gái, Tô Hoài còn muốn đánh thức linh hồn của cả một miền đất. Miền đất ấy là miền đất của tự do, của men say, cái say của tiếng sáo thiết tha quấn lấy hơi rượu lan tỏa, cái say của âm thanh lẫn với hương vị cay nồng. Rượu và sáo, cứ đến đoạn cô Mị tu ực từng bát rượu, chúng ta lại hình dung ra chân dung của một cô gái say khát tự do, cái say khát làm nên vẻ đẹp không thể lẫn của họ, bị hoàn cảnh làm cho chìm lấp, rồi đến lúc nó tìm được nguyên cớ để trở lại, thì nó trở lại như thác lũ. Mà nó không muốn trở lại trong yên lặng, nó trở lại một cách sống động, trong từng hơi thở, từng nghĩ suy, từng hành vi khát vọng. Cái tưởng như đã khuất lấp, thứ ánh sáng kì diệu của lòng ham sống ấy, lúc này nó chảy từ kí ức về, sống động và lung linh như một dòng thác ánh sáng không gì ngăn nổi.
(Trần Thị Thanh Hòa, HSGQG 2012)
Ở trên, học sinh thể hiện cách hiểu của mình về “ánh sáng” trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài với hai điểm nhấn: ánh sáng của âm thanh – tiếng sáo và ánh sáng của tâm hồn – tình yêu cuộc sống. Ở đó, ánh sáng âm thanh gọi ánh sáng tâm hồn, tiếng sáo đánh thức tình yêu cuộc sống. Giải thích đó được đặt trong hiểu biết của người viết về bản chất “say khát tự do” của người Mông, về văn hóa uống rượu, thổi sáo… Nhìn cô Mị từ góc độ này, lý giải diễn biến hành động, tâm trạng nhân vật từ góc độ này là đang nhìn từ góc độ văn hóa, là điểm nhìn văn hóa.
Giải thích ở trên tất nhiên lại không thể tách rời với những lời bình luận thì hành văn mới đạt được chiều sâu, cũng không thể tách rời với liên tưởng, tưởng tượng, với tổ chức kết cấu mạch ý…
Đề: Quan niệm của anh/ chị về sự giàu có của con người trong cuộc sống hôm nay?
Học sinh viết:
Trong thời đại hội nhập, trong cuộc sống phát triển không ngừng của nền kinh tế tri thức, sự giàu có về tri thức và đạo đức là công cụ để tạo ra sự giàu có về tiền tài. Tiền bạc có thể định được giá trị, nhưng tri thức và đạo đức thì là vô giá, bởi hai thứ đó “mua” được tiền bạc. Anh đứng giữa một xã hội ngày càng đi lên và đầy thách thức, anh cứ ôm khư khư cho mình một đống của và cho rằng anh là người giàu có thì cả xã hội lại nhìn anh là kẻ nghèo nàn nhất. Đó đơn giản chỉ là một thứ hình thức hào nhoáng, một sự trống rỗng hào nhoáng. Và anh cứ dậm chân tại chỗ mà chìm trong sự dĩ diện về đống của cải của mình trong khi dòng đời tiến xa như vũ bão. Con người được trọng nể và thực sự giàu có trong hoàn cảnh đó là con người có tri thức và đạo đức. Nhất định cả hai điều đó đều cùng phải song hành. Anh có tri thức, có hiểu biết, anh yêu nó và đam mê nó, học hỏi nó, đó là đạo đức. Người có tài, có đức được trọng vọng bởi lẽ họ mang tri thức của mình góp vào công cuộc dựng xây, đổi mới cuộc sống, mang đạo đức để chia sẻ yêu thương và niềm tin cho nhân loại. Sự giàu có của anh có thể chia cho cả thế giới. Nếu anh có một núi vàng làm sao chia được hết cho những người nghèo sống trong những căn nhà ổ chuột ở châu Phi? Chưa kể đến anh có giàu lòng nhân ái và hạn chế được cái gọi là lòng tham của con người để làm điều đó không? Con người ta giàu tri thức, giàu đạo đức tất sẽ sống cho cuộc đời với lý tưởng sao cho nhân loại đi lên, phát triển sâu sắc chứ không nông cạn, hào nhoáng, viển vông, không căn bản.
­­ (Phạm Quỳnh Nga, HSGQG 2015)
Điểm nhìn ở trên là điểm nhìn riêng có tính quan niệm, học sinh thể hiện quan niệm của mình về sự giàu có: giàu có là giàu tri thức và đạo đức (so sánh với giàu tiền bạc), hơn nữa còn giải thích rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa tri thức và đạo đức. Đó cũng là điểm nhìn văn hóa, thể hiện sự nhận thức của học sinh về các giá trị sống khá vững chắc. Muốn có điểm nhìn này, học sinh phải có quan điểm, có nhận thức khá sâu sắc về các giá trị sống.
* Giải thích bằng điểm nhìn trải nghiệm
Trải nghiệm khác với kinh nghiệm. Trải nghiệm được dùng nhiều như động từ (với nghĩa trải qua, kinh qua), còn kinh nghiệm dùng như danh từ (những gì thu được qua trải nghiệm). Như vậy, kinh nghiệm nhấn mạnh đến kết quả, trải nghiệm chú ý đến quá trình.
Trải nghiệm đối với học sinh giỏi là quá trình sống, va chạm, tiếp xúc với thế giới xung quanh để có được những thu lượm ý nghĩa. Đối với học sinh ở độ tuổi 17, 18, trải nghiệm của các em chưa dày, chưa rộng nhưng những gì có được cũng rất hữu ích đối với bài viết văn vì nó là những thu nhận của cá nhân, có tính riêng sắc nét.
Xét về phạm vi, trải nghiệm của học sinh giỏi văn thường xoay quanh các quan hệ thân thuộc như: quan hệ gia đình, làng xóm, quan hệ bạn bè, thầy cô, quan hệ riêng tư … Xét về tính chất, có trải nghiệm thực (qua các quan hệ thực trong đời sống với không gian, thời gian, sự kiện, con người) và trải nghiệm ảo (qua các quan hệ trên mạng xã hội, internet…). Xét về hình thức, có trải nghiệm thực tế (gắn với cuộc sống thường nhật) và trải nghiệm đọc (thông qua sách vở). Xét về thời gian, có trải nghiệm hiện tại (trải nghiệm đang diễn ra) và trải nghiệm kí ức (trải nghiệm đã qua).
Chia trải nghiệm thành các loại như trên để chúng ta có những hình dung rõ nét hơn, nhưng trong thực tế, các loại trên có thể tồn tại trong nhau, bên cạnh nhau và thực ra đều có ý nghĩa tương trợ nhau.
Ở đây, trong phạm vi của chuyên đề, người viết chỉ chọn hai loại trải nghiệm để phân tích minh họa, đó là trải nghiệm đọc và trải nghiệm sống, vì đây là hai kiểu trải nghiệm cơ bản bao chứa các trải nghiệm khác.
Trải nghiệm đọc
Đề: Từ xưa tới nay, đối nhân xử thế luôn là việc khó. Làm thế nào để xử lí mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống cho thấu tình đạt lí, cho thỏa lòng người là điều ai trong chúng ta cũng muốn trả lời. Người Nga, trong câu ngạn ngữ của mình, đã trả lời cho câu hỏi ấy: Đối xử với bản thân bằng lý trí, đối xử với người khác bằng tấm lòng.
Suy nghĩ của anh/ chị về câu ngạn ngữ trên?
Giải thích nội dung “đối xử với người khác bằng tấm lòng”, học sinh viết.
Còn việc đối xử với người khác bằng tấm lòng? Tương tự, trong quan niệm của Đắc nhân tâm, hay trong cuốn Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi cũng cho chúng ta một câu chuyện hay về cách ứng xử. Người cha nọ nói với con mình rằng đừng phê phán người khác, vì không phải ai cũng có hoàn cảnh tốt như con đâu! Người giàu có thì chê người nghèo sống ti tiện, bủn xỉn, người nghèo khổ lại chê người giàu có tiền để rồi tiêu xài hoang phí. Có một anh nhân viên nọ trong một công ty, anh ta không giàu có nhưng đã bỏ ra một khoản tiền lớn để tậu về một chiếc xe hơi. Mọi người xì xào bàn tán về anh, nói anh đua đòi hưởng thụ. Nhưng chẳng ai biết rằng ước mơ từ nhỏ của anh là ngồi sau tay lái, và anh đã làm việc hết sức cực nhọc để hoàn thành ước mơ ấy.
Vậy đấy, khi nhìn vào giọt mực trên một tờ giấy trắng, ta vẫn thường chỉ nhìn thấy giọt mực trong khi khoảng trắng còn lại là rất nhiều. Ta chỉ thấy một mặt của vấn đề, nhìn mọi việc xảy ra một cách hết sức chủ quan, thiển cận. Trong việc đối xử với người khác, hành động phê phán chủ quan là hoàn toàn không đáng có. Mọi việc trên đời đều có nguyên nhân, không phải tự nhiên người ta hành động một cách khó hiểu, kì quặc. Trước hết, hãy thử xem xét nguyên nhân của hành động ấy, xuất phát điểm của họ là đâu, họ làm vậy nhằm mục đích gì? Hiểu được người khác không bao giờ là dễ dàng, nhưng chỉ cần chúng ta bớt chút thời gian cau mày lại và mở tấm lòng mình bằng những câu hỏi như trên, ta lại nhìn thấy mọi chuyện diễn ra theo một chiều hướng hoàn toàn khác. Thấu hiểu, bao dung và độ lượng, ai cũng có thể làm điều đó. Hãy đối xử với người khác bằng tấm lòng, chắc chắn bạn sẽ nhận lại được tình yêu thương và sự kính nể từ họ.
(Phạm Thị Quế Giang, 2013)
Từ những trải nghiệm trong đọc sách, học sinh có thể sử dụng những câu chuyện, những chi tiết, những ấn tượng đọng lại trong tâm trí để thực hành giải thích trong bài văn nghị luận.
Trải nghiệm sống
Sự giàu có đáng giá nhất của một đời người có lẽ là giàu có về trải nghiệm. Trải nghiệm sống làm nên gương mặt của một nhân cách. Với học sinh, trải nghiệm sống làm nên những bài văn có sức lay động. Dưới đây là đoạn giải thích cho thấy sự quan sát, cái nhìn của học sinh về các kiểu người trong cuộc sống.
Đề: Moliere nói: “Người ta thường giống nhau ở lời nói, chỉ khác nhau ở hành động mà thôi”. Qua lời nói và hành động có thể biết bạn là ai.
Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn bàn về quan hệ giữa lời nói và hành động.
Học sinh viết:
Có người thích “nói” trước “làm” sau. Có người nói như nước chảy mây trôi, khí thế hiên ngang như thể sẽ làm được ngay, nhưng đến khi làm chỉ khiến người ta có cảm giác nghe sấm rền trời nhưng chẳng thấy giọt mưa nào cả! Có người chí lớn tài hèn, vạch đường tận mây xanh nhưng cứ bò lổm ngổm dưới đất tự đẩy mình vào tình cảnh khó xử, làm trò cười cho thiên hạ. Những hạng người siêng nói, lười làm kia được liệt vào danh sách chuộng hình thức, khinh nội dung, tự phụ kiêu ngạo. Ngược lại có người làm mà không nói. Họ thường lặng lẽ hành động, ít ai biết đến. Sức họ làm âm thầm lặng lẽ như đứa bé yếu ớt chăn trâu, không có khí thế cầu danh chuộc lợi. Họ đợi đến lúc thành công mới đúc kết thành lời, cũng có thể họ không nói lời nào, chỉ để cho thiên hạ đánh giá. Những hạng người này được liệt vào hàng ngũ của người thực việc thực, chú trọng những việc thực tế trước mắt, đối nhân xử thế nghiêm túc, lời nói của họ có thể nói là lời nói ngàn vàng. Cũng có hạng người nói đến đâu làm được đến đấy, nói đi đôi với làm. Chí hướng rõ ràng, ý chí kiên định, thái độ nghiêm túc, hành động thực tế, kiên trì nói đến đâu làm đến đó, đã nói là làm. Có thể nói đây là mẫu người hành động, có trách nhiệm với lời nói, họ là đối cực của những khẩu “đại pháo” chỉ nổ mà “không gây thương tích”. Đương nhiên, có hạng người nữa là không nói, không làm, cam chịu im hơi lặng tiếng, cam chịu tụt hậu. Họ không có chí tiến thủ, nhìn đời bằng ánh mắt lạnh nhạt, lờ đờ như người thiếu ngủ nghìn năm. Họ chấp nhận làm giá áo túi cơm, làm cục thịt biết đi, không hơn không kém. Hạng người này được coi là tự sát chậm, tiêu cực, trầm luân.
Đến với các tác phẩm văn chương, học sinh không chỉ cần tích lũy kinh nghiệm mà cần có cả những tích lũy trải nghiệm. Phân biệt như sau, kinh nghiệm văn chương nghiêng về tích lũy kiến thức, còn trải nghiệm văn chương nghiêng về tích lũy ấn tượng. Kiến thức thiên về sự phong phú và đầy đủ, bài bản, phổ biến còn trải nghiệm thường rõ nét, sống và mạnh mẽ vì nó là sở hữu của một cá nhân.
Khi đã là trải nghiệm, học sinh nhất định phải tạo ra được một góc nhìn, một thế nhìn về đối tượng. Cùng đứng trước một miêu tả: “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân”.
Học sinh dùng kinh nghiệm giải thích về vẻ đẹp của Sông Đà:
(1) Vế A của phép so sánh là dòng sông Đà thông qua từ so sánh “như”, so sánh với vế B là một sự vật vô hình trừu tượng “áng tóc trữ tình”. Nếu áng tóc là sự vật cụ thể thì áng tóc trữ tình lại là một khái niệm trừu tượng. Tác giả đã dùng hình ảnh áng tóc trữ tình để nói lên vẻ đẹp thơ mộng của dòng sông. Nhìn con sông Đà tuôn dài, nhà văn có cảm tưởng đó như một áng tóc. Phép so sánh độc đáo này đã tôn lên vẻ đẹp mềm mại, thơ mộng và hiền hoà của dòng sông. Dòng sông ấy hiền hoà, thơ mộng gợi bao cảm hứng trữ tình, cảm hứng thơ với các du khách.
Học sinh dùng trải nghiệm giải thích về vẻ đẹp của con sông:
(2) Ví Sông Đà đẹp như một “áng tóc trữ tình” nghĩa là Nguyễn Tuân đã gợi ra vẻ đẹp dịu dàng của một người con gái, một vẻ đẹp đầy nữ tính. Nhưng Nguyễn Tuân không chỉ bằng lòng với vẻ đẹp mang tính nữ của nó, ông đích đáng hơn khi chỉ ra đó phải là sự dịu dàng của người con gái Tây Bắc, mà mái tóc tuôn dài tuôn dài như thế, lại có cài hoa ban, hoa gạo khiến người đã từng qua Tây Bắc không thể không nghĩ đến những cô gái Thái. Nguyễn Tuân cũng không chỉ bằng lòng với vẻ đẹp thơ mộng của nó, vì thơ mộng và duyên dáng thì có biết bao dòng sông đã ghi tên tuổi, thế nên ông miêu tả nó đẹp và quyến rũ một cách đầy bí ẩn và hoang dại khi nó ẩn mình trong mùa xuân Tây Bắc, giữa mây trời, giữa hoa rừng và mù khói nương. Và, con Sông Đà không chỉ đẹp, nó còn tiềm ẩn một sức sống kì lạ mà với chỉ mấy từ “bung nở”, “cuồn cuộn”, Nguyễn Tuân đã khơi ra không biết bao nhiêu tưởng tượng. Đúng là tháng hai hoa ban, hoa gạo bung nở trắng trời, đỏ núi Tây Bắc, đúng là tháng hai khói Mèo cuồn cuộn nương xuân, nhưng phải chăng đó còn là cái bung nở, cuồn cuộn của con sông đang đón những giọt mầm của sức xuân Tây Bắc?
Hai đoạn văn trên được viết theo hai cách đã giới thiệu: theo kinh nghiệm và theo trải nghiệm.
Ở đoạn (1), học sinh sử dụng kiến thức về so sánh để làm rõ vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà, sau đó có những kết luận về giá trị của so sánh hơi chung chung: Sông Đà trữ tình, thơ mộng, hiền hòa, một kết luận đúng với nhiều con sông trong sáng tác văn chương. Điều quan trọng ở đây là phải làm nổi bật vẻ đẹp riêng của dòng sông. Vì thế, theo cách viết của đoạn (2), học sinh chỉ ra được nhiều điểm độc đáo trong cách tả vẻ đẹp Sông Đà của Nguyễn Tuân: vẻ đẹp mang tính nữ, đẹp như một cô gái Thái, đẹp hoang dại bí ẩn, tiềm ẩn sức sống của đất trời Tây Bắc. Cách nhìn này xuất phát từ trải nghiệm của cá nhân người viết về cảnh và người Tây Bắc (có thể có được qua đọc sách hoặc qua hiểu biết thực tế). Như thế, trải nghiệm nếu đúng lúc, đúng chỗ sẽ góp phần làm sâu hơn những giá trị của tác phẩm văn chương.
Những điểm khác biệt, tính mới của đề tài
3.1. Đề tài nhận diện giải thích rộng hơn khái niệm kĩ năng
Nhận diện này thể hiện ở mấy điểm
– Giải thích không chỉ tồn tại ở cấp độ đoạn, mà tồn tại đa dạng, ở nhiều cấp độ trong bài văn.
– Giải thích không phải là hoạt động cắt nghĩa bề ngoài mà có sự lý giải chiều sâu.
– Giải thích là một dạng năng lực sáng tạo.
3.2. Đề tài đề cao vai trò của liên tưởng, tưởng tượng
Liên tưởng, tưởng tượng vốn là những hoạt động của tư duy con người, chưa được chú trọng thích đáng trong dạy làm văn. Vì thế, đề tài đã có những mô tả chi tiết về hai dạng năng lực này, phân tích vai trò của chúng trong việc hỗ trợ cho giải thích trong bài văn.
3.3. Đề tài đề xuất cách viết văn giải thích dựa vào triển khai điểm nhìn văn hóa và điểm nhìn trải nghiệm
Điểm nhìn là một thuật ngữ thường được dùng trong lý luận về sáng tạo của nhà văn, chưa được phân tích rõ về vai trò đối với việc làm văn. Đóng góp của đề tài là mô tả được tính chất của điểm nhìn, gọi tên được hai loại điểm nhìn xuất hiện trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi. Hai loại điểm nhìn văn hóa và điểm nhìn trải nghiệm cho giáo viên thêm góc độ tiếp cận mới để đánh giá chuẩn của một bài văn, đoạn văn hay.
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA GIẢI PHÁP
Sử dụng trong dạy học Ngữ văn (khả năng)
Các giải pháp và những minh họa của đề tài đều có thể lấy làm nguồn tham khảo cho các bài dạy về kĩ năng thuộc phân môn làm văn trong chương trình SGK hiện thời.
Sử dụng trong ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi quốc gia môn Ngữ văn (đã thực hiện): Các giải pháp của đề tài được sử dụng để ôn luyện đội tuyển từ tháng 08 đến hết tháng 12/2016, thực hiện xen kẽ trong các chuyên đề và các nội dung luyện đề.
Sử dụng trong ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi lớp 10 (đã thực hiện): Các minh họa trong giải pháp được sử dụng làm tài liệu cho các em học sinh, các giải pháp được thực hiện xen kẽ trong các chuyên đề cho đội tuyển học sinh giỏi lớp 10, từ tháng 09/2016 đến tháng 04/2017.
Sử dụng để phát triển một số hoạt động trong Câu lạc bộ văn học của nhà trường (đã thực hiện từ tháng 03/2017): Tọa đàm theo chủ đề, Viết bài luận hay theo chủ đề…
HIỆU QUẢ, LỢI ÍCH THU ĐƯỢC (VÀ DỰ KIẾN THU ĐƯỢC)
Về phía học sinh đội tuyển (cấp quốc gia, cấp trường, cấp tỉnh)
– Nâng cao hiệu quả dạy học, kích thích dạy học gây hứng thú cho các em học sinh trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.
– Làm dày hơn kiến thức khoa học, kiến thức bộ môn và kiến thức xã hội cho các em học sinh đội tuyển. Hỗ trợ các em về định hướng tư duy, định hướng viết trong quá trình học tập.
– Kết quả:
+ Đội tuyển học sinh giỏi quốc gia 5/6 học sinh đạt giải (1 nhì, 2 ba, 2 khuyến khích). Học sinh hứng thú, viết được nhiều đoạn luận, bài luận hay.
+ Tiếp tục phát hiện, bồi dưỡng 10/10 học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi cấp trường, cấp tỉnh năm học 2016- 2017. Các em học sinh viết được nhiều đoạn văn, bài văn theo định hướng của người nghiên cứu đề tài.
Về phía giáo viên
Các giải pháp của đề tài góp phần thúc đẩy việc dạy học Ngữ văn nói chung, cũng như việc dạy học trong các đội tuyển có định hướng rõ nét hơn, bám sát những định hướng đổi mới của ngành giáo dục, của bộ môn Ngữ văn trong yêu cầu đổi mới, trong đó có những định hướng về phát triển năng lực, “trải nghiệm sáng tạo”.
Các giải pháp tiếp tục giúp giáo viên ôn luyện có định hướng đúng trong việc phân loại, lựa chọn học sinh tham gia các đội tuyển học sinh giỏi Ngữ văn các cấp.
Đề tài là cơ sở, nền tảng bước đầu để người viết thực hiện một nghiên cứu trên diện rộng hơn, lớn hơn, dự kiến sẽ in thành sách tham khảo vào cuối năm 2017, đầu 2018.
PHẠM VI, ẢNH HƯỞNG CỦA GIẢI PHÁP
Đề tài với việc dạy học Ngữ văn của trường THPT chuyên Lê Quý Đôn
Đề tài được các đồng nghiệp quan tâm, sử dụng như một bộ tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy.
Đề tài với việc dạy học Ngữ văn các tỉnh bạn
Đề tài nhận được nhiều phản hồi tích cực từ đồng nghiệp Ngữ văn của nhiều tỉnh bạn.
Đề tài với các trường THPT chuyên trong khối các trường chuyên Duyên hải và đồng bằng Bắc Bộ
Đề tài được Hội thảo các trường chuyên khu vực Duyên hải và đồng bằng Bắc Bộ đánh giá cao, đạt giải Nhất Hội thảo khoa học tháng 12/2016. Hiện nay đề tài được sử dụng làm tài liệu giảng dạy ở nhiều trường chuyên.
KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Đề tài mong muốn nhận được chia sẻ từ các đồng nghiệp.
Tác giả sáng kiến : Trần Chinh Dương – THPT chuyên Lê Quý Đôn Điện Biên.
Nguồn tài liệu: Sở GD ĐT tỉnh Điện Biên
Xem thêm : Sáng kiến kinh nghiệm môn văn

Bài viết gợi ý: