A- KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

I- ĐOẠN VĂN THUYẾT MINH

a) Thế nào là một đoạn văn?

b) Một đoạn văn cần đạt được những yêu cầu nào trong các yêu cầu kể dưới đây.

  • Tập trung làm rõ một ý kiến chung, một chủ đề chung thống nhất và duy nhất.
  • Liên kết chặt chẽ với các đoạn văn đứng sau và trước nó
  • Diễn đạt chính xác, trong sáng
  • Gợi cảm, hùng hồn

Trả lời:

a) Đoạn văn là phần văn bản được quy ước tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng. Đoạn văn là đơn vị cơ sở của văn bản.

b) Một đoạn văn cần đạt được những yêu cầu trên.

2. Theo anh chị giữa một đoạn văn tự sự và một đoạn văn thuyết minh có những điểm nào giống và khác nhau? Vì sao có sự giống và khác nhau như thế?

Trả lời:

Sự giống và khác nhau giữa đoạn văn tự sự và thuyết minh:

Giống nhau: Cùng trình bày một sự kiện, miêu tả một sự vật hiện tượng và người viết phải quan sát cẩn thận.

Khác nhau:

  • Đoạn văn tự sự thường có những yếu tố biểu cảm và miêu tả rất hấp dẫn xúc động. Còn đoạn văn thuyết minh chủ yếu cung cấp tri thức, thiên về giới thiệu sự vật, hiện tượng, không có các yếu tố miêu tả và biểu cảm như đoạn văn tự sự
  • Văn bản thuyết minh nặng về tư duy khoa học. Đoạn văn thuyết minh có thể trình bày theo những phương pháp thường được sử dụng như diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp.

3. Một văn bản thuyết minh có thể bao gồm bao nhiêu phần chính? Các ý trong đoạn văn thuyết minh có thể được sắp xếp theo cá trình tự thời gian, không gian, nhận thức, phản bác- chứng minh không? Vì sao?

Trả lời:

Đoạn văn thuyết minh có thể bao gồm ba phần chính: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Mở đoạn có nhiệm vụ giới thiệu chung. Các ý trong thân đoạn có thể được sắp xếp theo trình tự thời gian, không gian, nhận thức, phản bác - chứng minh... Bởi ví nó làm tăng tính hấp dẫn, lôi cuốn cho đoạn văn.

II- VIẾT ĐOẠN VĂN THUYẾT MINH

Viết một đoạn văn thuyết minh để cung cấp cho người đọc những hiểu biết chuẩn xác về một nhà khoa học hoặc một tác phẩm vàn học, một công trình nghiên cứu, một điển hình người tốt, việc tốt.

1. Anh (chị) hãy phác qua dàn ý đại cương cho bài viết.

Trả lời:

Ví dụ. chọn thuyết minh về một tác phẩm văn học cần lập dàn ý đại cương như sau:

Mở bài: Giới thiệu chung về tác phẩm (tên tác phám. tác giả, đặc điểm khái quát nhất của tác phẩm)

Thân bài: Giới thiệu chi tiết về tác phẩm.

  • Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác.
  • Giới thiệu các giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm (tuỳ theo từng tác phẩm cụ thể mà có thể có số lượng ý tương ứng với số lượng đoạn văn nhiều ít khác nhau).
  • Giới thiệu những nét đặc sắc về nghệ thuật (tuỳ theo từng tác phẩm cụ thể mà có thể có số lượng ý tương ứng với số lượng đoạn văn nhiều ít khác nhau).

Kết bài: Nhận định tổng hợp về tác phẩm (khái quát giá trị, vị trí, âm hưởng của tác phẩm).

2. Tiếp đó hãy diễn đạt một ý trong dàn ý thành một đoạn văn.

Trả lời:

Tác phẩm Nam Cao để lại chủ yếu là truyện ngắn, trong số những truyện ngắn viết về người nông dân, thì “Lão Hạc” là một truyện ngắn xuất sắc và tiêu biểu.
Truyện ngắn “Lão Hạc” được đăng báo lần đầu năm 1943, truyện kể về nhân vật chính – lão Hạc, một lão nông dân nghèo khổ, có phẩm chất trong sạch, vợ lão Hạc mất sớm, để lại lão và câu con trai, trong nhà tài sản duy nhất của hai cha con lão là một mảnh vườn và “cậu vàng” – con chó do con trai lão mua. Do không đủ tiền cưới vợ, con trai lão chán nản mà làm đơn xin đi mộ phu đồn điền cao su, để lão ở nhà một mình với cậu vàng. Lão Hạc hết sức thương con, lão chăm vườn, làm ăn giành dụm để khi con trai lão về thì cưới vợ cho nó. Thế nhưng, sau một trận ốm nặng, bao nhiêu tiền giành dụm cũng hết, sức khoẻ lão ngày một yếu đi, vườn không có gì để bán, lão Hạc trở nên đói kém hơn, phải lo từng bữa ăn. Lão ăn năn day dứt khi quyết định bán cậu vàng, người bạn thân thiết của lão. Lão gửi số tiền và mảnh vườn cho ông giáo và xin bả chó của Binh Tư để kết thúc cuộc sống túng quẫn của mình. Lão chết một cách đau đớn, nhưng cái chết làm sáng ngời phẩm chất trong sạch của lão Hạc.

 

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: trang 63 sgk Ngữ văn 10 tập 2

Viết đoạn văn nối tiếp theo đoạn mà anh (chị) vừa hoàn thành trên lớp 

Bài làm:

Từ câu chuyện của Lão Hạc, Nam Cao đã làm lên những giá trị về nội dung, giá trị hiện thực và nhân đạo cho tác phẩm.Những giá trị nội dụng mà Na Cao đề cập tới thể hiện một thái độ trân trọng và cái nhìn nhân đạo đối với lão Hạc nói riêng và người nông dân nói chung, những con người nghèo khổ nhưng sống trong sạch, thà chết chứ không chịu mang tiếng nhục, làm những điều trái với lương tâm cao cả của mình. Nam Cao cũng đã nêu lên một triết lí nhân sinh, giá trị nhân đạo cho tác phẩm của mình đó là : con người chỉ xứng đáng với danh nghĩa con người khi biết trân trọng và chia sẻ, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương ở con người. Đồng cảm với những số phận đáng thương, Nam Cao đã lên tiếng thông qua tác phẩm, vạch trần hiện thực xã hội, lên án xã hội đương thời thối nát, bất công, không cho những con người có nhân cách cao đẹp như lão được sống. Tác phẩm “Lão Hạc” cũng mang một giá trị nghệ thuật sâu sắc, thể hiện được phong cách độc đáo của nhà văn Nam Cao. Diễn biến của câu chuyện được kể bằng nhân vật tôi, nhờ cách kể này câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực với một hệ thống ngôn ngữ mộc mạc, dễ hiểu, già tính triết lí. Trong tác phẩm có nhiều giọng điệu, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và trữ tình. Đặc biệt, bút pháp khắc hoạ nhân vật tài tình của Nam Cao cũng được bộc lộ rõ rệt với ngôn ngữ sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và sức gợi cảm.

Câu 2: trang 63 sgk Ngữ văn 10 tập 2

Từ những kết quả và tiến bộ đã đạt được, hãy viết một bài văn thuyết minh để giới thiệu một con người, một miền quê, một danh lam thắng cảnh hoặc một phong trào hoạt động mà anh (chị) đã có dịp tìm hiểu kĩ.

Bài làm:

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du:

“Tiếng thơ ai động đất trời

Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du

 Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.

Đã gần ba thế kỉ trôi qua nhưng những vần thơ thấm đẫm nước mắt và tràn trề tình thương mà Nguyễn Du để lại vẫn còn nguyên giá trị. Nguyễn Du được biết đến là Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” 

Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong một gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tần, một người phụ nữ Kinh Bắc có tài xướng ca. Quê hương Nguyễn Du là vùng đất địa linh, nhân kiệt, hiếu học và trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học vấn uyên bác, có nhiều tài năng văn học.

Cuộc đời của ông gặp nhiều biến cố.  Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc đời Nguyễn Du bắt đầu gặp những sóng gió trong cơn quốc biến ba đào: sống nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh) thì Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan ở tận Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha, có lúc lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều nhất là thời gian ông sống không nhà ở kinh thành Thăng Long. Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần gũi nhân dân và thấm thìa biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, đặc biệt là người dân lao động, phụ nữ, trẻ em, cầm ca, ăn mày... những con người “dưới đáy” xã hội. Chính nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du - nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.  Miễn cưỡng trước lời mời của nhà Nguyễn, Nguyễn Du ra làm quan. Năm 1813 được thăng chức Học sĩ điện cần Chánh và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Năm 1820, ông lại được cử đi lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì mất đột ngột ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820).

Từ những bi kịch của đời ông nhưng chính điều đó lại khiến tác phẩm của ông chứa đựng chiều sâu chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.  Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, tổng cộng 250 bài thơ Nôm, Nguyễn Du có kiệt tác Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) và một số sáng tác đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; về Thác lèn trai phường nón. Đặc biệt tác phẩm Truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Du, được chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết "Truyện Kim Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, lưu truyền những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo suốt hàng ngàn năm.

Những sáng tác của Nguyễn Du đạt đến trình độ thượng thừa, điêu luyện, đạt đến trình độ bậc thầy của những tài năng kiệt xuất. Ngôn ngữ văn chương đặc biệt là tiếng Việt đạt đến trình độ nhuần nhuyễn hiện tực và trữ tình đặc biệt là biểu hiện sâu sắc đời sống nội tâm con người, Đó là những thứ ngôn ngữ được kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân, tạo nên sắc thái biểu cảm phong phú. Nguyễn Du còn thẳng định được tài năng khắc họa tâm lí nhân vật. Thế giới nội tâm con người vốn phức tạp có được khám phá trọn vẹn và có chiều sâu qua những vần thơ của Nguyễn Du. Có thể nói thơ của Nguyễn Du đã đạt được những trình độ mẫu mực của nghệ thuật cổ điển. Từ tài năng nghệ thuật đó, Nguyễn Du đã tái hiện lại hiện thực xã hội, vạch trần bộ mặt của một xã hội coi trong đồng tiền, một xã hội phong kiến thối rữa mà ở đó con người đặc biệt những người tài hoa hay những người phụ nữ đều không có quyền không có tiếng nói sống một xã hội bị chà đạp đối xử bất công. Từ những giá trị hiện thực đó là những giá trị nhân đạo của Nguyễn Du là cảm thông cho những con người ấy, là xót thương cho những con người có số phận bất hạnh: 

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Nguyễn Du nổi bậc giữa bầu trời văn chương như một ngôi sao rực rỡ với ánh sáng lạ thường. Có hể nói, ông đã đem đến cho nền văn học thế kỉ 18 và nền văn học dân tộc những tiếng nói thấm đẫm tình người, mở ra cái nhìn mới cho tất cả, mở cửa hàng triêu trái tim con người. Trải qua hàng trăm năm , những cái tên Nguyễn Du vẫn là cái tên người đời không khỏi cảm phục vì các tài cái đức xót thương cho mọi kiếp người của ông.