Những việc cần làm ở nhà (dựa vào SGK trang 180)

1. HS nhớ lại và thống kê đầy đủ các tác phẩm hoặc đoạn trích đã học (kể cả những bài tự học có hướng dẫn) và ghi vào bảng theo mẫu trong SGK.

2. Ghi lại định nghĩa về từng thể loại trong văn học dân gian. Phần này chỉ học ở lớp 6 và 7 các em có thể mượn lại SGK hoặc Photo phần Mục lục để làm việc chủ động.

3. Yêu cầu thống kê chi tiết các thể thơ, văn đã học trong chương trình văn học trung đại. HS dựa vào bảng thống kê ở câu 1, rồi nhớ lại hoặc xem lại văn bản các tác phẩm để làm được câu này.

4. Yêu cầu nhận ra phương thức biểu đạt chủ yếu ở mỗi thể loại của văn học hiện đại. Trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức. Chẳng hạn trong tác phẩm truyện luôn có cả tự sự, miêu tả, biểu cảm và đôi khi cả lập luận. Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm, vẫn nổi lên một hay vài phương thức biểu đạt chủ yếu, làm căn cứ để xác định và gọi tên thể loại cho tác phẩm ấy.

A. NHÌN CHUNG VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM

CÁC BỘ PHẬN HỢP THÀNH NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM

Mục này nói về cấu trúc của nền văn học, tức là chỉ ra các bộ phận và thành phần hợp thành nền văn học ấy.

- Dựa vào bảng thống kê các tác phẩm đã làm, cho biết văn học Việt Nam, cũng như nhiều nền văn học khác, được tạo thành từ hai bộ phận lớn: văn học dân gian và văn học viết.

Các ý chính trong mục này: Văn học dân gian

- Được hình thành từ thời xa xưa và tiếp tục được bổ sung, phát triển trong các thời kì lịch sử tiếp theo. Văn học dân gian nằm trong tổng thể văn hóa dân gian (folklore).

- Là sản phẩm của nhân dân, chủ yếu là tầng lớp bình dân. Vì không phải là tiếng nói của mỗi cá nhân nên văn học dân gian chỉ chú ý chọn lựa những cái gì là tiêu biểu chung cho nhân dân hay môi tầng lớp trong quần chúng.

- Được lưu truyền chủ yếu bằng cách truyền miệng, thường có hiện tượng dị bản.

- Có vai trò quan trọng nuôi dưỡng tâm hồn trí tuệ của nhân dân và là kho tàng phong phú cho văn học viết khai thác, phát triển.

- Văn học dân gian Việt Nam bao gồm văn học của nhiều dân tộc trên đất nước Việt Nam. Văn học dân gian nước ta vẫn tiếp tục phát triển trong suốt đời trung đại, khi văn học viết đã ra đời và phát triển.

- Về thể loại, văn học dân gian Việt Nam có hầu hết các thể loại chủ yếu trong văn học dân gian thế giới, đồng thời lại có một số thể loại riêng (vè, truyện thơ, chèo, tuồng đồ...)

Văn học viết

Xuất hiện từ thế kỉ X, trong thời kì giành lại được nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Các thành phần của văn học viết xét về mặt văn tự bao gồm: văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ.

- Văn học chữ Hán: xuất hiện từ buổi đầu của văn học viết và tồn tại, phát triển trong suốt thời kì văn học trung đại (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX), và còn có một số tác phẩm ở thế kỉ XX.

Văn học chữ Hán tiếp thu nhiều yếu tố của văn hóa và tư tưởng Trung Hoa, nhưng vẫn là một thành phần của văn học Việt Nam, mang tinh thần dân tộc, thể hiện đời sống, tư tưởng, tâm lí dân tộc.

- Văn học chữ Nôm: xuất hiện muộn hơn văn học chữ Hán (ở thế kỉ XIII, nhưng tác phẩm cổ nhất còn lại đến nay là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV). Văn học chữ Nôm phát triển song song với văn học chữ Hán và đặc biệt mạnh mẽ ở thế kỉ XVIII - XIX, mà những đỉnh cao tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương.

- Văn học chữ quốc ngữ: chữ quốc ngữ xuất hiện từ thế kỉ XVII, đến cuối thế kỉ XIX mới được dùng để sáng tác văn học. Từ đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi và dần trở thành văn tự gần như duy nhất dùng để sáng tác văn học ở nước ta.

TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM

Văn học Việt Nam phát triển trong sự gắn bó mật thiết với lịch - sử dân tộc, tuy không phải các thời kì văn học đều trùng khít thời kì lịch sử.

Văn học Việt Nam (chủ yếu là nói văn học viết) trải qua ba thời kì lớn:

- Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (còn gọi là thời kì văn học trung đại): Ở thời kì này, nền văn học phát triển trong môi trường xã hội phong kiến trung đại qua nhiều giai đoạn, về cơ bản vẫn là một quốc gia phong kiến độc lập, tay phải chống lại nhiều cuộc xâm lược và cả ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Văn học ở thời kì trung đại có nhiều đặc điểm chung về tư tưởng, về quan niệm thẩm mĩ, về hệ thống thể loại, ngôn ngữ. Văn học trung đại Việt Nam đã có những giai đoạn phát trin mạnh mẽ, kết tinh được thành tựu ở những tác giả lớn, những tác phẩm xuất sắc, cả chữ Hán và chữ Nôm.

- Từ đầu thế kỉ XX đến 1945: văn học chuyển sang thời kì hiện đại. Cuộc xâm lược của thực dân Pháp, tiếp đó là cuộc khai thác thuộc địa của chúng đem lại nhiều biến đổi sâu rộng về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng ở nước ta vào đầu thế kỉ XX. Nền văn học vận động theo hướng hiện đại hóa, có những biến đổi toàn diện và mau lẹ, nhanh chóng kết tinh được những thành tựu xuất sắc ở giai đoạn 1930-1945, ở cả thơ và văn xuôi.

- Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay: nền văn học của thời đại mới - thời đại độc lập, dân chủ và đi lên chủ nghĩa xã hội. Văn học đã trải qua hai giai đoạn: 1945–1975 và từ sau 1975 đến nay.

+ Giai đoạn 1945–1975: Cả dân tộc phải tiến hành liên tiếp hai cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Văn học đã phục vụ tích cực cho hai cuộc kháng chiến và các nhiệm vụ cách mạng, nếu cao tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, lòng nhân ái, đức hi sinh, đã sáng tạo những hình ảnh cao đẹp về đất nước và con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ trong hai cuộc kháng chiến, trong lao động xây dựng.

+ Từ sau 1975: Văn học bước vào thời kì đổi mới. Mở rộng phạm vị tiếp cận đời sống một cách toàn diện, khám phá con người ở nhiều mặt, hướng tới sự thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần dân chủ – đó có thể coi là những điểm nổi bật của văn học trong thời kì đổi mới.

MẤY NÉT ĐẶC SẮC NỔI BẬT CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM

Ở mục này, SGK chỉ nêu một cách khái quát nhất những nét được coi là đặc sắc nổi bật về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của văn học Việt Nam, cả văn học dân gian và văn học viết. Về nội dung tư tưởng, chỉ nêu ba điểm nổi bật: tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng, tinh thần nhân đạo, sức sống bền bỉ và tinh thần lạc quan. Về mặt nghệ thuật, chỉ nêu một đặc điểm về quy mô và phạm vi kết tinh nghệ thuật.

- Tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng là truyền thống tinh thần nổi bật của dân tộc ta xa xưa và đã trở thành nội dung tư tưởng đậm nét, xuyên suốt qua các thời kì phát triển của văn học Việt Nam.

- Tinh thần nhân đạo cũng là một truyền thống tư tưởng sâu đậm của văn học Việt Nam. Tư tưởng ấy có sự phát triển với những biểu hiện phong phú, đa dạng qua các thời kì và mỗi giai đoạn văn học.

- Sức sống bền bỉ và tinh thần lạc quan cũng là một nét đặc sắc của văn học Việt Nam, thể hiện sức sống và đặc điểm m hồn dân tộc.

- Về quy mô và phạm vi kết tinh nghệ thuật: văn học cũng như các loại hình nghệ thuật khác của ta thường được kết tinh trong những tác phẩm gọn, có quy mô không lớn, chú trọng sự tinh tế mà dung dị, có vẻ đẹp hài hòa.

HƯỚNG DẪN HC BÀI

1. Căn cứ vào bảng thống kê tác phẩm đã chuẩn bị ở nhà để làm bài này. Có thể kết hợp làm khi tìm hiểu mục Các bộ phận hợp thành nền văn học Việt Nam.

2. u cầu phân biệt được trên những nét chính như sau:

- Văn học dân gian là sản phẩm của quần chúng nhân dân, không mang tính cá thể. Còn văn học viết là sản phẩm trực tiếp của nhà văn, mang dấu ấn cá nhân tác giả.

- Văn học dân gian chỉ chọn lọc, khái quát những cái chung tiêu biểu cho cộng đồng (toàn thể nhân dân hay một tầng lớp, bộ phận trong quần chúng). Trong văn học viết, đặc biệt là ở thời kì hiện đại, văn học không chỉ quan tâm đến những cái chung mà còn chú ý tới số phận, tính cách và mọi vấn đề của cá nhân con người.

- Văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng, còn văn học thì phải bằng chữ viết và các hình thức ghi chép, lưu giữ lại được (trên thẻ tre, đá, khắc gỗ, trên giấy...)

3. Tìm ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học viết trên nhiều phương diện, như: thể loại, các mô-típ chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh và chi tiết nghệ thuật, thành ngữ tục ngữ, ca dao... được vận dụng vào văn học viết. Trong Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương có rất nhiều câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ đã được vận dụng thích hợp. Những bài thơ hiện đại như Con cò (Chế Lan Viên), Khúc t ru những em bé lớn trên lưng m(Nguyễn Khoa Điềm), Ngồi buồn nhớ mta xưa (Nguyễn Duy) là những ví dụ tiêu biểu về việc vận dụng thành công ca dao - dân ca.

B. SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC

MỘT SỐ THẾ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN

Mục này nhằm ôn lại kiến thức về các thể loại của văn học dân gian đã học ở lớp 6 và lớp 7. HS nhắc lại các định nghĩa vắn tắ từng thể loại, minh họa bằng những tác phẩm văn học dân gian đã học và những tác phẩm quen thuộc khác.

MỘT SỐ THẾ LOẠI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Mục này trong SGK tập trung vào các thể thơ, ngoài ra còn đề cập đến các thể văn xuôi, truyện thơ và các thể chính luận. Các em hãy trình bày theo nội dung và trình tự trong SGK. Cần lấy những dẫn chứng minh họa từ các tác phẩm đã học. Khi nói về thể thất ngôn bát cú, có thể chép một bài thơ tiêu biểu rồi chỉ ra luật bằng trắc, đối, niêm gia các câu trong bài thơ.

MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

Thể loại trong văn học hiện đại hết sức đa dạng, lại biến đổi nhanh chóng vì tính chất dân chủ, không bị ràng buộc quá chặt chẽ vào các quy tắc, đề cao sự tìm tòi, sáng tạo của nhà văn trong nền văn học hiện đại.

Bài viết gợi ý: