LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I-Khái niệm về lập luận trong bài văn nghị luận:

Đọc đoạn văn lập luận (SGK) và cho biết:

a. Kết luận (mục đích) của lập luận là gì?

b. Để dẫn tới kết luận đó, tác giả đã đưa ra những lí lẽ hoặc dẫn chứng (luận cứ) nào?

c. Hãy cho biết thế nào là một lập luận?

Gợi ý:

Đoạn văn lập luận là một đoạn trong bức Thư lại dụ Vương Thông của Nguyễn Trãi. Đây là một áng văn chính luận mẫu mực về nghệ thuật lập luận.

a. Kết luận (mục đích) của lập luận là chỉ ra cho giặc thấy nếu không hiểu thời thế, lại dối trá (kẻ thất phu hèn kém) thì không thể cùng nói việc bình được.

b. Để dẫn tới kết luận đó, tác giả đưa ra các luận cứ. Các luận cứ đều là lí lẽ. Xuất phát từ một chân lí tổng quát: "Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết xét thời thế...", tác giả suy luận tới hai hệ quả: "được thời có thể thì biến mất thành còn, hoá nhỏ thành lớn" và "mất thời không thế thì mạnh quay thành yếu, yên chuyển thành nguy". Đó chính là cơ sở để khẳng định bọn giặc không hiểu thời thế, lại dối trá nên chỉ là "kẻ thất phu hèn kém", cầm chắc thất bại.

c. Khái niệm lập luận (xem phần: Những kiến thức và kĩ năng cần nắm vững).

II- Cách xây dựng lập luận:

Bài tập 1. Đọc văn bản “Chữ ta ” (SGK) và cho biết:

a. Bài văn nghị luận trên bàn về vấn đề gì? Quan điểm của tác giả về vấn đề đó như thế nào?

b. Bài văn có bao nhiêu luận điểm? Tìm các luận điểm đó.

Gợi ý:

Văn bản Chữ ta của nhà báo Hữu Thọ là một văn bản nghị luận trong đó tác giả thể hiện rất rõ quan điểm của mình.

a. Bài văn bàn về vấn đề chữ viết trên quảng cáo, bảng hiệu, trên báo chí,... Quan điểm của tác giả về vấn đề nàylà: phản đối việc dùng chữ nước ngoài tràn lan ở nước ta hiện nay.

b. Bài văn có hai luận điểm:

- Tiếng nước ngoài đang lấn lướt tiếng Việt trong các bảng hiệu, quảng cáo ở nước ta.

- Tiếng nước ngoài đưa vào báo chí một cách không cần thiết, gây thiệt thòi cho người đọc.

Bài tập 2: Đọc lại đoạn văn ở mục trước (Thư lại dụ Vương Thông của Nguyễn Trãi), văn bản "Chữ ta ” và:

a: Tìm các luận cứ cho moi luận điểm.

b. Cho biết đâu là luận cứ lí lẽ, đâu là bằng chứng thực tế.

Gợi ý:

- Luận cứ trong đoạn trích Thư lại dụ Vương Thông của Nguyễn Trãi đều là các lí lẽ.

- Luận cứ của cả hai luận điểm trong bài Chữ ta đều là những bằng chứng thực tế "mắt thấy tai nghe" của chính người viết khi tác giả sang Xơ- un (Hàn Quốc) và quay về Việt Nam. .

Bài tập 3. Đọc lại hai ngữ liệu trên và:

a. Xác định và phân tích các phương pháp lập luận được vận dụng.

b. Kể thêm một số phương pháp lập luận thường được sử dụng trong văn bản nghị luận.

Gợi ý:

a. Hai ngữ liệu trên sử dụng hai phương pháp lập luận khác nhau:

- Đoạn văn của Nguyễn Trãi lập luận theo phương pháp diễn dịch và quan hệ nhân quả: đầu tiên đưa ra nhận định khái quát ("Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết xét thời thế mà thôi"), sau đó triển khai nhận định bằng các luận cứ (đồng thời cũng là nguyên nhân) và cuối cùng là lời đánh giá từ các luận cứ (đồng thời cũng là kết quả).

- Bài văn của Hữu Thọ lập luận theo phương pháp quy nạp và so sánh đối lập. Để đi đến kết luận về "thái độ tự trọng của một quốc gia", tác giả đã xây dựng hai luận điểm. Trong mỗi luận điểm, người viết đều so sánh thực tế giữa Hàn Quốc và Việt Nam về phương diện chữ viết trên quảng cáo, bảng hiệu và trên báo chí.

b. Một số phương pháp lập luận thường gặp (xem phần: Những kiến thức và kĩ năng cần nắm vững).

III- Luyện tập:

Bài tập 1. Tìm và phân tích các luận điểm, luận cứ và phương pháp lập luận trong đoạn trích ở bài Khái quát văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX (SGK).

Gợi ý:

- Luận điểm: Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại rất phong phú, đa dạng.

- Luận cứ lí lẽ: Chủ nghĩa nhân đạo biểu hiện ở lòng thương người; lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người; khẳng định, đề cao con người;...

- Luận cứ thực tế: Các tác phẩm cụ thể giàu tính nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam từ văn học Phật giáo thời Lý đến văn học giai đoạn TK XVIII - giữa TK XIX (Cáo bệnh, bảo mọi người của thiền sư Mãn Giác; Tỏ lòng của thiền sư Không Lộ; Đại cáo bình Ngô, Tùng, Cảnh ngày hè,... của Nguyễn Trãi; Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ; Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều; Truyện Kiều của Nguyễn Du;...).

- Phương pháp lập luận: Chủ yếu là phương pháp quy nạp.

Bài tập 2. Hãy tìm luận cứ làm sáng tỏ luận điểm sau:

a. Đọc sách đem lại cho ta nhiều bổ ích.

b. Môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề.

c. Văn học dân gian là những tác phẩm ngôn từ truyền miệng.

Gợi ý:

Có nhiều cách đưa ra luận cứ cũng như có thể có nhiều luận cứ cho mỗi luận điểm mà bài tập nêu ra. Dưới đây là một số luận cứ có thể tham khảo:

a. Đọc sách đem lại cho ta nhiều điều bổ ích.

- Nâng cao tầm hiểu biết về tự nhiên, xã hội, hiểu biết về cuộc sống mọi mặt.

- Đọc sách giúp ta khám phá chính bản thân mình.

- Đọc sách sẽ chắp cánh cho những ước mơ, khơi nguồn cho những sáng tạo.

- Đọc sách giúp cho việc diễn đạt (nói, viết) tốt hơn.

b. Môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề.

- Đất đai bị xói mòn, sạt lở, bị sa mạc hoá.

- Không khí bị ô nhiễm.

- Nguồn nước sạch bị nhiễm độc tố.

c. Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng.

- Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.

- Văn học dân gian là những tác phẩm truyền miệng.

Chú ý: Trên đây chủ yếu là các luận cứ lí lẽ. Mỗi luận cứ đều có thể lấy dẫn chứng để chứng minh.

Bài tập 3. Chọn một trong các lập luận vừa xây dựng ở bài tập 2 để viết thành một đoạn văn.

Gợi ý:

Tham khảo đoạn văn sau:

Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi. Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó, hiểu được trái đất tròn mang trên mình nó bao nhiêu đất nước khác nhau với những hoàn cảnh thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hoá, những truyền thông, những khát vọng.

(Theo Làm văn 10, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000)

Bài viết gợi ý: