BỘ ĐỀ THI THPTQG CHUẨN CẤU TRÚC- ĐỀ 15
Môn: Ngữ Văn
Thời gian làm bài: 120 phút.
I. ĐỌC – HIỂU (3 điểm)
Con tôi
chào đời
trong lòng đất
Vách hầm rung rưng - nước mắt
Nước mắt đất
Nhỏ trên khuôn mặt như trái hồng ươm
Nhỏ vào tiếng khóc mềm như chồi non
[...]
Bàn chân đi... rồi con sẽ học
Câu thơ của cha, rồi con sẽ đọc
Tất cả phần con những mùa quả chín đầy
Rễ cây hút màu từ thớ đất hôm nay
Tới tận vành nôi hút từng hơi con thở
Cha biết con đang thèm ngọn gió
Khát tia bình minh từ cửa đất rọi vào
Nụ cười vẫn hồng hào
Trên vòm gối thêu bát ngát trăng sao
Không vui nào bằng niềm vui lặng lẽ
Khi đất và cha cùng nghe con gọi “Mẹ!”
Soi mắt con cười, cha thấy đó, trời xanh.
(Bài thơ tặng con, trích từ tập thơ “Cát trắng ", Nguyễn Duy, NXB Quân đội Nhân dân)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Văn bàn được viết theo thể thơ gì?
Câu 2. Tìm và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ: “Cha biết con đang thèm ngọn gió/ Khát tia bình minh từ cửa đất rọi vào”?
Câu 3. Theo anh/ chị, vì sao người cha trong bài thơ lại có cảm nhận: “Khi đất và cha cùng nghe con gọi “Mẹ!”/Soi mắt con cười, cha thấy đó, trời xanh”?
Câu 4. Qua bài thơ, nhà thơ muốn gửi tới con và gửi tới chính mình điều gì?
II. LÀM VĂN (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
Trong chiến tranh, người ta khát khao hòa bình. Khi hòa bình, ta nghĩ gì về hòa bình?
Câu 2 (5 điểm)
Có ý kiến cho rằng nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ là một thành công của nhà văn Tô Hoài khi xây dựng con người thức tỉnh. Phân tích đoạn trích Vợ chồng A Phủ để làm sáng tỏ nhận định trên.
HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI
Câu 1 |
Văn bản được viết theo thể thơ tự do |
Câu 2 |
- Biện pháp tu từ: + Ẩn dụ phẩm chất: ngọn gió, tia bình minh ẩn dụ cho hòa bình + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: thèm - ngọn gió, khát - tia bình minh - Tác dụng: + Về hình thức: giúp lời thơ hình ảnh hơn, hàm súc và giàu sức gợi hơn. + Về nội dung: diễn tả niềm khát vọng hòa bình của người cha để đứa con bé bỏng sinh ra trong hầm đất được hưởng không khí hòa bình an lành trên mặt đất. |
Câu 3 |
Người cha trong bài thơ có cảm nhận: “Khi đất và cha cùng nghe con gọi “Mẹ! ”/ Soi mắt con cười, cha thấy đó, trời xanh ”. Đó là cảm nhận rất chân thành của một người cha yêu con và một người dân yêu nước. Trong hoàn cảnh em bé sinh ra trong trong hầm trú ẩn, khát vọng hòa bình, độc lập đan cài vào khát vọng cho con có được cuộc sống bình yên, tự do, được hạnh phúc khi hít thở bầu không khí không có mùi thuốc súng. Mắt cười và khuôn miệng gọi “Mẹ” của đứa trẻ là sức mạnh, là niềm tin, là hi vọng ngày mai tươi sáng. |
Câu 4 |
- Về hình thức: 5-7 dòng, diễn đạt mạch lạc. - Về nội dung: nhà thơ muốn nó với con về khát vọng hòa bình, về tình yêu tha thiết dành cho con và niềm ao ước một tương lai tươi đẹp. Đồng thời, nhà thơ cũng tự nhắn nhủ mình về niềm lạc quan, niềm tin yêu, hi vọng vào chiến thắng. |
II. LÀM VĂN (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm) Yêu cầu chung về hình thức và kết cấu đoạn văn:
•Xác định đúng vấn đề nghị luận.
•Nêu được quan điểm cá nhân và bàn luận một cách thuyết phục, hợp lí.
•Đảm bảo bố cục: mở - thân - kết, độ dài 200 chữ.
•Lời văn mạch lạc, lôi cuốn, đàm bảo chính tả và quy tắc ngữ pháp.
Yêu cầu nội dung:
Có nhiều hướng trình bày ý kiến, sau đây chỉ là một gợi ý:
Câu |
Nội dung |
Đoạn văn |
Nêu vấn đề |
Vấn đề
|
+ Khi hòa bình, ta nghĩ gì về hòa bình? + Hòa bình là trạng thái tự do, không có chiến tranh, khi con người không phải sống trong lo sợ đạn bom và hỗn loạn. |
Luận bàn |
Bàn luận về hòa bình |
+ Khi hòa bình, con người không cảm nhận rõ được giá trị của hai tiếng đó. Có những ứng xử chưa phù hợp, chưa thể hiện sự quý trọng hòa bình, mặc dù họ vẫn là những người yêu nước. + Hòa bình ở đất nước ta được xây lên từ xương máu của cha ông * Phản biện: Quý trọng hòa bình nên đến nay, rất nhiều người vẫn ghi nhớ và nhắc mãi mối hận thù chiến tranh, khi hôm nay, những nạn nhân của chiến tranh vẫn từng giây phút chịu đau khổ bởi những hậu quả không dễ xóa mờ? * Giải pháp : Điều gì giúp bảo vệ hòa bình của đất nước? + Hành động + Thái độ quý trọng hòa bình, xoa dịu nỗi đau quá khứ và hướng tới tương lai. + Tinh thần hòa hữu, ứng xử nội bộ và quốc tế khéo léo. |
Câu 2 (5 điểm)
Yêu cầu chung: 0,5 điểm
Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kỹ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục rõ ràng, đầy đủ; văn viết có cảm xúc, thể hiện khả năng phân tích, cảm thụ.
Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
Yêu cầu nội dung: 4,5 điểm
ĐỌC HIỂU YÊU CẦU ĐỀ - Đối tượng chính, trọng tâm kiến thức: Vợ chồng A Phủ - Dạng bài: Phân tích, bàn luận ý kiến - Yêu cầu: Giải thích ý kiến, làm sáng tỏ qua phân tích hình tượng nhân vật Mị |
||
TIẾN TRÌNH LÀM BÀI |
||
KIẾN THỨC |
HỆ THỐNG Ý |
PHÂN TÍCH CHI TIẾT |
CHUNG
|
Khái quát vài nét về tác giả - tác phẩm |
- Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 trong một gia đình thợ dệt thủ công ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (quê ngoại), nay là phường Nghĩa Đô, quận cầu Giấy, Hà Nội. Quê nội của ông ở Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ). - Năm 1943, Tô Hoài tham gia Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông viết báo và hoạt động văn nghệ ở Việt Bắc. Do có trình độ hiểu biết sâu rộng và vốn sống phong phú về phong tục, tập quán của nhiều dân tộc ở nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước nên sáng tác của Tô Hoài thiên về diễn tả những tình cảnh của đời thường. Tác phẩm cua Tô Hoài luôn hấp dẫn người đọc bởi lối kể chuyện hóm hỉnh, sinh động, bơi vốn từ vựng giàu có lạ thường. - Vợ chồng A Phủ là truyện ngấn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc của ông. Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể. Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc (1954). Tác phẩm ra đời là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn cùng với bộ đội giải phóng Tây Bắc. Tác phẩm thể hiện chân thực, xúc động về cuộc sống cơ cực, tủi nhục của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến cùng quá trình giác ngộ cách mạng, tự vùng lên giải phóng cuộc đời |
TRỌNG TÂM
|
Giải thích |
- “Con người thức tỉnh ” chỉ một dạng nhân vật văn học vốn có số phận bất hạnh nhưng biết vươn lên đấu tranh để thay đổi cuộc đời, giành lại cho mình những niềm hạnh phúc đáng được có. - Mị là nhân vật từng nếm trải nhiều cay đắng, tủi nhục và đau khổ trải qua những năm dài bị áp bức bóc lột bị chà đạp, giày xéo mà trở thành con người gần như vô cảm vô hồn, sống trong trạng thái nhẫn nhục, cam chịu cho thân phận mình. Cuối cùng, con người thức tỉnh dần dần “hồi sinh”, tự ý thức về quyền sống và quyền làm người của mình, phản kháng áp bức, bất công giành lấy tự do và hạnh phúc, xây dựng một cuộc sống có ý nghĩa. Cùng với nhân vật A Phủ, ta thấy rõ nhân vật Mị là “con người thức tỉnh” giàu ý nghĩa nhân văn. |
Phân tích |
Từ cuộc đời đầy bi kịch: + Mị là một cô con dâu gạt nợ sống ở nhà thống lí Pá Tra để trả món nợ truyền đời - truyền kiếp. Quãng đời của Mị ở Hồng Ngài thật sự là một chuỗi ngày đen tối nhất của một người đàn bà ở giữa chốn địa ngục trần gian. + Tuy là mang tiếng con dâu của vua xứ Mèo mà lại phải làm việc quần quật như “con trâu, con ngựa”, sống vô cảm vô hồn, không có ý thức về thời gian, tuổi trẻ, tình yêu, cam chịu, nhẫn nhục... - Đến thức tỉnh trong đêm tình mùa xuân: + Từ sự tác động của ngoại cảnh, đặc biệt là tiếng sáo, men rượu, khiến Mị hồi sinh, Mị nhận ra Mị còn trẻ (sự ý thức được về bản thân, về ngoại hình, nhan sắc), Mị muốn đi chơi (Sự ý thức được nhu cầu đòi hỏi về mặt tinh thần). + Mị so sánh mình với bao người phụ nữ khác: Bao nhiêu người có chồng vẫn đi chơi ngày tết. Và cô gái ấy trở lại cái đau đớn khi nhận ra cuộc hôn nhân phi lí của mình. Nhắc lại điều đó, ý muốn tự tử của Mị lại trở lại. Hay nói cách khác, nghĩ đến nắm lá ngón, đến cái chết lại là dấu hiệu cô Mị đã hồi sinh, nhận ra mình muốn chết là ý thức được về những nỗi thống khổ, là sự phản ứng lại trước số phận nghiệt ngã, là khao khát muốn được tự do. + Và Mị, đã có những hành động, không phải vô tri, thói quen, mà là hành động của thức tỉnh. Trước tiên, Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ vào đĩa cho đèn thêm sáng. Sau đó, Mị quấn lại tóc, lấy cái váy hoa chuẩn bị đi chơi, Mị đã bước đi theo tiếng gọi của tiếng sáo, của nhu cầu bản thân, Mị đang vượt qua những ràng buộc, để sống thật với con người mình, khao khát của mình. + Nhưng A Sử về, A Sử ở đó như đại diện cho cường quyền, thần quyền, chặn đứng khát khao, nhu cầu cua Mị, A Sử trói đứng Mị vào cột, thế nhưng A Sử không thể trói được tâm hồn Mị, Mị bị trói nhưng Mị vẫn vùng bước đi. |
Bình luận, đánh giá |
- Ý kiến hoàn toàn chính xác và thuyết phục: Mị là con người thức tỉnh, thức tỉnh từ nhận thức đến hành động, và điều đó mang lại cho Mị một cuộc đời mới, có ý nghĩa và được làm một con người thật sự. - Bằng tài năng và một vốn từ phong phú, Tô Hoài đã phân tích tinh tế, sâu sắc mọi diễn biến về tâm lí và hành động Mị trong quá trình thức tỉnh với tất cả sự thương xót và đồng cảm sâu sắc. Mị là nhân vật thức tỉnh có sức mạnh phản kháng và sức sống tiềm tàng. Nhân vật Mị đã góp phần thể hiện giá trị nhân văn của truyện Vợ chồng A Phủ. |